Mt68 History



Trang Mậu Thân 68 thiết lập từ 18-6-06 - Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.


Saturday, 23 September 2017

THẰNG VIỆT TANH NẦY MƠ CỘNG = SAO VC KHÔNG THỦ TIÊU NÓ ĐỂ NHỮNG ĐỨA ĂN CƠM VNCH DU HỌC RỒI LẠI VỀ LIẾM VÁI CỘNG KHỎI MẮC BỆNH MÙ LÒA./-TCL

SỰ VIỆC MẤT DẠY NẦY NHỨT ĐỊNH CÓ BÀN TAY LÔNG CHÓ CỦA NGUYỄN TÔM, MINDY NGUYỄN VÀ LISA CHU ./-TCL

Chúng ta kêu gọi tẩy chay người đã xem thường lá quốc kỳ VNCH của chúng ta.

image

Ash Kalra đã xữ dụng nhóm người Việt nào đó và trong văn phòng của hắn có 2 nhân viên người Việt là Mindy Nguyễn và Lisa Chu, Hắn ta đã viết chữ, ghi tên Ash Kalra, vẽ logo của hắn ta lên lá cờ vàng VNCH. Đây là sĩ nhục lá cờ vàng, hành động này không thể chấp nhận được.

Đề nghị các Cộng Đồng Người Việt, Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và các Hội Đoàn Quân Đội phải đặt vấn đề với hắn ta và bắt buộc hắn ta phải xin lỗi người Việt Quốc Gia VNCH.

Dân biểu Ash Kalra được người Việt chống Madison dồn  phiếu nên hắn đậu vào chức vụ dân biểu, nhưng khi ngồi được chức vụ này thì đi chung  với nghị viên Nguyễn Tâm đã từng chụp hình chung với Thủ Tướng Việt Cộng Võ Văn Kiệt, như trước khi rời khỏi chức vụ nghị viên khu vực 2 thì đem $20,000 cho Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng đồng của thằng Tâm Nguyễn, trong khi trung tâm này mỗi năm thành phố cấp cho $300,000 để điều hành.

Buổi họp báo này hoàn toàn không có lợi ích thiết thực gì cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản, đây là các sắc luật được thống đốc Jerry Brown của tiểu bang California ký ban hành, trong đó có luật di trú, tỵ nạn đều áp dụng cho tất cả các sắc dân và không ngoại trừ người Việt. Ash Kalra lợi dụng luật này để nói chuyện với người Việt để lường gạt chúng ta  là hắn ta đã làm được việc sau khi hắn ta ngồi vào chức vụ dân biểu. Thực tế hắn không làm gì và không đem quyền lợi về cho cộng đồng người Việt mặc dù trước khi thắng cử hắn ta luôn miệng nói là sẽ đem quyền lợi cho người Việt, Đây là sự xảo quyệt, nói láo.

Trong thư mời Ash Kalra còn láo lếu ghi “ Vào cửa miễn phí”, Dân biểu khi nói chuyện với dân chúng dĩ nhiên là không thu tiền khi vào cửa, hắn ta khi dể người Việt nên hắn ta ghi Miễn Phí, hắn tưởng là người Việt chỗ nào miễn phí và có ăn Free là có người Việt hay sao? Đến chỉ nghe hắn nói dốt mà thôi

image

Ngoài ra hắn còn ghi : “ Thứ Nhật” chứng tỏ là hắn xử dụng những người Việt hoàn toàn không chú ý đến văn tự của tiếng Việt, cứ đưa ra bừa bãi với cộng đồng chúng ta, không tôn trọng người Việt.

Mong chúng ta bài xích và cẩn thận hơn nữa trên con đường chính trị lưu manh của dân cử đối với Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản

TRÍCH Y 1 ĐỌAN VẮN TẮT VỀ HHHG BA XẠO CỦA VIỆT CỘNG- ĐÉO CÓ HHHG GÌ CẢ VỚI MỌI RỢ PẮC BÓ./-TCL

HOÀ GIẢI HOÀ HỢP chỉ là một chiêu bài lừa bịp của VC.
 
Với chiêu bài “hòa giải hòa hợp” sau chiến dịch Sửa Sai Cải Cách Ruộng Đất cách đây  hơn 50 năm, VC đã dùng trò “vắt chanh, bỏ vỏ” để những “đảng viên mới” và “đảng viên cũ” “ giết nhau, ghìm nhau” để Đảng thủ lợi!
Giữa những đảng viên của họ với nhau mà Đảng còn lừa bịp như thế thì thử hỏi đối với những kẻ mà báo chí của họ gọi là BỌN HÔI MÙI THỰC DÂN, ĐẾ QUỐC – như họ đã gọi ông nhà văn “bạc đầu, đen óc” thì Đảng và Nhà Nước sẽ đối xử như thế nào?    Tất cả những gì đến từ VC đều là những trò trí trá, gian xảo. Hơn lúc nào hết, người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại cần phải tỉnh táo trước những âm mưu, thủ đoạn HÒA GIẢI, HÒA HỢP của VC mà bọn “bồi thần” (chữ dùng của sử gia Tư Mã Thiên để chỉ đầy tớ của bôn đầy tớ, tay sai của lũ tay sai)) của chúng đang ra rả kêu gọi từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác.
 
Nay, chuyện 20 vị nhân sĩ, trí thức trong nước lại kêu gọi theo kiểu “xin-cho” và kế đó là “bức thư ngỏ” cực kỳ hèn hạ của 35 ông, bà tự xưng là “trí thức” ở hải ngoại thì cũng chỉ là chuyện hát lại bài hát cũ   mà thôi!
 

*
Trong quyển tiểu thuyết lừng danh “1984”, văn hào George Orwell kể rằng: Winston và người tình của anh là Julia - cả hai đều là đảng viên CS - bị đảng bắt giam vì bị nghi ngờ là đã mưu toan hãm hại đại ca (Big Brother) của đảng.
Winston bị giam trong một căn hầm tối, không biết ngày đêm, bị bỏ đói bỏ khát, và nhất là không được quyền ngủ. Hơi chợp mắt, là có một luồng ánh sáng điện chói chang chụp vào mắt. Winston bị đá lên đạp xuống như trái banh, đầu ngón chân ngón tay bị kìm kẹp và đôi khi bị dí điện ngất lên ngất xuống. Thân xác anh ta đau một, tinh thần anh ta đau mười. Tụi nó tra tấn anh, và lừa gạt anh ta rằng Julia đã nhận hết các tội. Thân xác bị đánh đập, tâm thần bị dầy xéo vì sự bội bạc của người tình, anh ta chịu hết nổi. Anh ta nhắm mắt đầu hàng: tội gì cũng nhận, giấy tờ gì cũng ký. Lập tức anh ta hết bị tra tấn, được cho ăn uống và được trả tự do. Theo Orwell, đó là tự do mang nhãn hiệu cộng sản.
 
Theo cựu luật sư Nguyễn Văn Chức thì đó cũng là cái tự do mà Nhà nước CHXHCN Việt Nam ban phát cho những trí thức đi theo chúng nó và cho nhân dân VN hiện nay.
 
Như vậy, có thể nào hoà hợp, hoà giải dưới sự tự do mang nhãn hiệu cộng sản?
 
Và, có thể nào hoà hợp, hòa giải khi “hiện nay, mọi người dường như đã “thích nghi” với chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngậm miệng là điều kiện cần và đủ để thành công mọi mặt, từ công việc làm ăn đến thăng quan tiến chức. Từ miếng giấy thông hành về nước, đến việc dạy học, việc mở và dự hội thảo ở VN.
 
Ngoại trừ những khuôn mặt can trường đã vào tù, tinh thần trí thức hướng dẫn xã hội và dân tộc đến bình đẳng tự do, dân chủ, đã bị dẹp tan, gần như diệt chủng, kể cả những “trí thức” đã đi du học, làm việc ở nước ngoài, đã được giải thưởng, cũng lộn về để nhận ân sủng, phẩm hàm, nhà cửa”? (Thụy Khê - Tiếng vọng trong đêm, tiểu thuyết Nguyễn Mạnh Tường).
 
NGUYỄN THIẾU NHẪN tieng-dan-weekly.blogspot.com
 

Friday, 22 September 2017

PHAN NHẬT NAM KHÔNG DÁM MẠNH MIỆNG VÌ ĐÃ UỐNG BIA DO VIỆT CỘNG TRẢ TIỀN- CHỜ XEM THỤY KHA NÓI GÌ???./-TCL


Khi Đại úy VNCH tương thông Đại tá vc



Khi đọc lá thơ Phan Nhật Nam trả lời trùm nhà văn vc Hữu Thỉnh, tôi viết một bài viết ngắn, mở đầu như vầy:

Điều kiện để Hòa hợp, Hòa giải

KHÔNG PHẢI CHỈ ĐƠN THUẦN là:

- Chấm dứt danh xưng " Ngụy Quân/Ngụy Quyền
- Thôi hô " Đả đảo TPB. QLVNCH "
- Và Tu bổ Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

là ĐỦ

Đừng nhẹ dạ "ăn bánh phỉnh việt cọng"
Đem đầu về cho chúng "đột" nữa!

Đọc giả Huỳnh Nam phê phán:

" Ông PNN không bao giờ có diễn dịch như bạn nói. Bạn nên nghiêm chỉnh hơn, đừng nhét chữ vào miệng người như thế. Trước khi đấu tranh với CS, bạn nên đấu tranh với chính mình, cố gắng làm một người đàng hoàng. Trân trọng. "

Lúc dó tôi làm thinh vì không có đủ yếu tố xác định vì sao bọn tuyên giáo vc chọn Phan Nhật Nam làm đối tượng thảo luận về cái gọi là hòa họp hòa giải ởm ờ, cù nhầy kiểu vẹm.

May có bài viết của cựu đại tá vc Phạm Đình Trọng về việc nầy, tôi viết tiếp:

Đáng lẽ tôi làm thinh, chấm dứt thảo luận ở đây, vì tôi không đủ yếu tố xác định: Vì sao Thỉnh chỉ viết thơ mời Phan Nhật Nam?!

May đọc bài "Không thể có hòa giải khi cái ác còn ngự trị" của Phạm Đình Trọng thấy đoạn viết nầy:

"Không nản chí, người đứng đầu hội Nhà Văn của đảng liền tính lại cách làm cụ thể, thiết thực hơn và chỉ hai tháng sau liền triển khai một chiêu mới: Chi tiền đưa một dư luận viên văn chương sang tận Mỹ tìm gặp bằng được nhà văn tay bút, tay súng trên mặt trận chống cộng. Gặp để mở đường làm quen. Như một cuộc hòa giải cá nhân. Như lễ chạm ngõ trong hôn nhân. Tạo cớ cho người đứng đầu hội Nhà Văn của đảng viết thư mời đích danh nhà văn đó về nước tham dự “Cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài... Với ý nghĩa cao cả, góp phần làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp.”

Đó là lý do vì sao tôi nói: Đừng nhẹ dạ "ăn bánh phỉnh việt cọng". Đem đầu về cho chúng "đột" nữa! "

Phan Nhật Nam đã "đi đêm" tiếp xúc với "dư luận viên" của "xếp văn hóa Hữu Thỉnh" nên mới có lá thơ "Thỉnh thỉnh mời Nam"!

Vì sao việc không thành, nửa đường gãy gánh thì... phải chờ một bài viết khác từ bọn hủ thỉnh thì mới rõ.

Hồi sau sẽ rõ!



Nhà quê, " miệng ăn mắm, ăn muối nói đâu có đó."

Và đây là bài viết " Quả Mồi Chài Vô Duyên " của cựu Đại tá vc Bùi Tín:



" Tôi cũng từng nhiều lần gặp Phan Nhật Nam, từ tháng 1/1973 trong 60 ngày ở Sài Gòn trong Ban Liên hợp 4 bên, cùng đi trên trực thăng đến Qui Nhơn, Cần Thơ, Pleiku, lại cùng đi trên C130 ra Hà Nội, thăm trại giam Hỏa Lò, cùng ăn cơm trên đường Bà Triệu với những trao đổi có lúc căng thẳng, cũng có lúc rất thư giãn, trong lòng không hề hận thù nhau, có lúc còn tâm sự với nhau rằng, chúng mình là con đẻ của thời thế (thời thế thế nào tất mình phải thế), rằng nếu cậu ở miền Bắc cậu sẽ có thể như mình, nếu mình ở miền Nam sẽ có thể như cậu… "



Nếu biết rằng lúc ấy Đại úy Phan Nhật Nam là sĩ quan tùy viên của Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, Trưởng đoàn VNCH trong Ủy Ban Giám sát Ngưng bắn 4 bên thì phải biết PNN nắm trong tay hồ sơ về chủ trương của Chánh phủ VNCH mà đi tỉ tê, tâm sự với tên Đại tá Trưởng đoàn (?) vc thì lộ tẩy hết còn gì?!



Người ta thường nói: việt cọng dở ẹt về cai trị nhưng rất giỏi về an ninh, tình báo rình rập.

Cho nên bọn an ninh tuyên giáo vc biết rõ bụng PNN từ khi ấy.



Huống chi ngày nay Nam ta vẫn còn " quan hệ " mà lại thân thiện trịnh trọng với " đại ca " Bùi hết mực:



" Để rồi đến khi sang Hoa Kỳ gặp lại nhau, chúng tôi trở thành thân quen, khi Phan Nhật Nam kết rất thân với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ở chung một nhà, Nam hay gọi tôi là «ông anh đáng quý» và tâm sự với nhau. "



Đó là lý do vì sao mà tuyên giáo vc chấm điểm PNN làm cò mồi trong ván bài hòa hợp, hòa giải bễ dĩa nầy.



Còn lý do bễ dĩa thì còn phải đợi người trong cuộc viết tiếp.



Phần gã chức việc VNCH chẳng đặng đừng chửi thề:



" Đù quả, sĩ quan QLVNCH giữ trọng trách đi tư thông với giặc mà  không mất nước mới là chuyện lạ!!!"


                                               Nguyễn Nhơn
BS Hoàng trốn tránh SỰ THẬT:
LỜI THÚ NHẬN “KHÔNG CHỐNG CỘNG” CỦA TKN!
Hữu Nguyên https://saigontimes.org/
alt
HÌNH TRÊN, Trần Kiều Ngọc với giọng nói chanh chua, lối lý luận đanh đá, hùng hổ, giống hệt cán bộ cái VC và mấy bà tổ trưởng dân phố của VC ở Sàigòn sau 1975, đang hùng hổ tuyên bố: Mục đích của chúng con làm là vì yêu thương, không phải vì chống cộng. Mà nếu, tất cả những thế lực nào, bất cứ ai, mà cản cái con đường cho chúng con đến với anh em [VC] của chúng con, thì chúng con sẵn sàng chiến đấu cho đến cùng.  (Xin click vô đây coi nguyên văn).
BS NGUYỄN VĂN HOÀNG LÀ VT???
alt
Hình trên: Trinh Du, nhân vật số 1, tích cực hậu thuẫn cho Đại Hội của TKN, qua các cuộc phỏng vấn, kêu gọi mọi người đóng góp tiền bạc, tham dự Đại Hội. Nhiều người, trong đó có SGT, NGHI NGỜ Trinh Du là người của băng đảng VT.
Hai thập niên qua, đọc những bài viết và tìm hiểu những việc làm của BS Nguyễn Văn Hoàng, chúng tôi NGHI NGỜ ông là người của băng đảng VC/VT.
Mấy năm trước, khi diễn đàn Phố Nắng của NVH, đăng những bài chửi bới ông Võ Đại Tôn, chúng tôi đã viết bài trên báo SGT phê phán ông NVH. Ngay sau đó, bà Bạch Phượng, chị của ông, đã gọi điện thoại trao đổi với chúng tôi. Nhân dịp này, chúng tôi đã thẳng thắn hỏi bà, có phải ông NVH là đảng viên VT? Bà BP khẳng định KHÔNG, và chúng tôi tin lời bà.
Tuy nhiên, trong những tháng gần đây, sự xuất hiện bất ngờ của ông NVH bên cạnh VT Trần Kiều Ngọc, cùng những việc làm tiêu lòn âm thầm của ông, đã khiến chúng tôi nhìn ra phần nào vai trò của ông.
Trong cuộc phỏng vấn do Trinh Du thực hiện, ông NVH kể chuyện tình cờ phát hiện minh quân TKN: Ông thấy TKN lần đầu tiên vào tháng 9, 2016, trên  YouTube. Nghe TKN nói, ông rất ngạc nhiên trước chí khí, khí phách của cô, một người trẻ, chỉ trong vòng một năm, bỗng nổi lên như một vì sao xẹt (1) và lập tức, ông tin tưởng cô là niềm hy vọng của dân tộc VN. (Xin click vô đây coi nguyên văn)
Hai tháng sau, NVH bay xuống Adelaide “tìm hiểu” về TKN, để rồi sau đó, như một quân sư quạt mo tìm thấy minh chúa, NVH trở thành nhân vật then chốt, bên cạnh TKN từ Adelaide đến Brisbane, Sydney… và là Điều hợp viên của Đại Hội vào đầu tháng 9 vừa qua.
Quan trọng hơn, ông NVH cũng là người luôn rêu rao quan điểm KHÔNG CHỐNG CỘNG, CHỈ CHỐNG CÁI ÁC, giống như TKN và băng đảng VT. Đây là hậu quả ngẫu nhiên của “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” (birds of a feather flock together), hay cả hai cùng là sản phẩm được chế tạo từ lò VC/VT?
NV HOÀNG VIẾT BÀI ĐÁNH LẠC HƯỚNG DƯ LUẬN
Gầy đây, chứng kiến hàng loạt SỰ THẬT bị phanh phui, khiến “thần tượng chống cộng như vì sao xẹt” TKN bị sụp đổ, hiện nguyên hình là một kẻ KHÔNG CHỐNG CỘNG, NVH vội viết bài, “Nhân sĩ vs hồi chánh viên” (Xin click vô đây coi nguyên văn).
Đọc bài, chúng tôi nhận ra ý đồ thâm độc của NVH: Nguỵ tạo cuộc tranh chấp phi lý, trứng chọi đá, giữa 4 vị nhân sĩ nổi tiếng chống cộng có uy tín tại hải ngoại, cùng tích cực ủng hộ LS Trần Kiều Ngọc (Ô. Lưu Tường Quang, Ô. Võ Đại Tôn, LM Nguyễn văn Khải, Giám Mục Nguyễn văn Long); và chúng tôi, người tấn công luật sư Trần Kiều Ngọc.
Nguỵ tạo như vậy, NVH muốn mọi người quên đi HAI SỰ THẬT VÔ CÙNG QUAN TRỌNG: Thứ nhấtLỜI THÚ NHẬN KHÔNG CHỐNG CỘNG CỦA TKN. Thứ haiCUỘC ĐẤU TRANH QUANG MINH, CHÍNH ĐẠI CỦA NHỮNG NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC, CHỐNG LẠI SỰ DỐI TRÁ, BỊP BỢM, GIẢ DANH CHỐNG CỘNG ĐỂ MOI TIỀN ĐỒNG HƯƠNG, CỦA TKN VÀ BÈ LŨ.
Vì vậy, để hiểu rõ HAI SỰ THẬT VÔ CÙNG QUAN TRỌNG này, tiên quyết và tối hậu, chúng ta nên đánh giá chính bản thân TKN qua những bằng chứng hiển nhiên, chứ không nên tuỳ thuộc vào những người ủng hộ hay chống đối TKN, cho dù họ có là linh mục hay giám mục.
Nên nhớ, sự hậu thuẫn của LM Hoàng Quỳnh và Giám mục Lê Hữu Từ dành cho tên VC nằm vùng Vũ Ngọc Nhạ trong chiến tranh VN, chắc chắn đã giúp cho người Việt yêu nước, không đi lại vết xe đổ ngày xưa.
SỰ THẬT TRẦN KIỀU NGỌC LÀ KẺ PHẢN BỘI!
Có 2 SỰ THẬT vô cùng quan trọng, TKN bất khả chối cãi và công luận bất khả tư nghị:
THỨ NHẤT, TKN DỐI TRÁ, GIẤU ĐẦU, LÒI ĐUÔI VT: SỰ THẬT này đã được chúng tôi chứng minh qua sự tự mâu thuẫn, giữa 2 câu trả lời của TKN, một với bà Hoàng Lan Chi và một với ông Trần Hưng Việt. (Xin click vô đây coi nguyên văn).
THỨ HAI, TKN TUYÊN BỐ “KHÔNG CHỐNG CỘNG”: SỰ THẬT này đã được chúng tôi chứng minh với đầy đủ bằng chứng về hình ảnh, lời nói của TKN qua video thu hình buổi hội thảo nhân quyền tại Canada. Nguyên văn, TKN nói ở phút 26:23 “tuổi trẻ thế hệ của con, của em con, khi mình nói đến chống cộng sản, thì cái quan niệm, cái context đó đối với các em [và con] rất là xa vời,  các em [và con] không hiểu được. PHÚT 26:32 Thành thử ra cái việc của chúng con làm, không phải là việc chống cộng. Cái việc của chúng con làm là chống cái ác.” (xin click vô đây coi video và click vô đây coi transcrip)
Đồng ý, Sống trong xã hội tự do dân chủ, mọi người đều có quyền tự do chọn lựa: CHỐNG CỘNG hoặc KHÔNG CHỐNG CỘNG.
Tuy nhiên, bất cứ ai đã là người Việt yêu nước, là người Việt tỵ nạn CS, hoặc có cha mẹ là quân, dân, cán, chính VNCH, thì việc chọn lựa KHÔNG CHỐNG CỘNG rõ ràng là một SỰ PHẢN BỘI.
Vì vậy, chúng tôi kết luận TKN LÀ KẺ PHẢN BỘI QUÊ HƯƠNG, TỔ QUỐC, DÂN TỘC VN, CHA MẸ VÀ CHÍNH BẢN THÂN TKN!
SỰ PHẢN BỘI của TKN càng trở nên trắng trợn và đáng lên án gấp bội phần, khi TKN lúc nào cổ cũng quấn Cờ Vàng, đi đâu cũng dùng bình phong chống cộng, để hô hào ông bà, chú bác, quyên góp tiền bạc.
HÃY THẲNG THẮN VÀ THÀNH THẬT TRƯỚC SỰ THẬT
Video về lời tuyên bố KHÔNG CHỐNG CỘNG CỦA TKN là SỰ THẬT hết sức hiển nhiên. SỰ THẬT hiển nhiên này, tự nó có giá trị KẾT ÁN TKN LÀ KẺ PHẢN BỘI, bất kể những người hậu thuẫn TKN là ai, uy tín đến mức độ nào và đông đảo đến đâu (Truth stands, even if there be no public support – Mahatma Gandhi).
Nhưng điều cực kỳ NGHỊC LÝ, khiến tất cả những người Việt yêu nước đều ngạc nhiên và phẫn nộ: Trước lời tuyên bố KHÔNG CHỐNG CỘNG CỦA KẺ PHẢN BỘI TKN, đông đảo những người nổi tiếng chống cộng có uy tín tại hải ngoại, trong đó có Ô. Lưu Tường Quang, Ô. Võ Đại Tôn, LM Nguyễn văn Khải, Giám Mục Nguyễn văn Long, không những không phản đối, trái lại, họ còn CÔNG KHAI TIẾP TAY ỦNG HỘ, HOAN HÔ, CA NGỢI TKN!!!
Vì họ vô tình không biết? Hay vì họ ấu trĩ, u tối? Hay vì họ đồng loã?
Đó là những câu hỏi, chắc chắn thời gian sẽ trả lời. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, ai ai cũng phải thừa nhận SỰ THỰC: Qua việc tiếp tay ủng hộ, hoan hô, ca ngợi KẺ PHẢN BỘI “KHÔNG CHỐNG CỘNG” TKN, chính họ đã trở thành những kẻ PHẢN BỘI: PHẢN BỘI TỔ QUỐC, DÂN TỘC, CỘNG ĐỒNG VÀ CHÍNH BẢN THÂN HỌ; PHẢN BỘI CHÚA, PHẢN BỘI ĐẠO, PHẢN BỘI GIÁO DÂN; PHẢN BỘI CẢ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HY SINH TRONG ĐÓ CÓ CẢ NHỮNG NGƯỜI THÂN YÊU CỦA CHÍNH HỌ.
Hữu Nguyên https://saigontimes.org/ 
(1) Người Việt ví von ai như “vì sao xẹt” là có ý nói người đó tuy tài ba, thành công, nhưng vắn số, chết yểu. Không hiểu vì sao, BS Hoàng lại nhầm lẫn, thay vì ca ngợi TKN như một “vì sao Bắc đẩu”, ông lại đi trù ẻo TKN vắn số, khi ví cô như “vì sao xẹt”.

NHỮNG BÀI VIẾT VỀ TRẦN KIỀU NGỌC


Trần Kiều Ngọc Bài 1: TKN & Trò Hề Vua Mặc Áo Mới (xin click vô đây)
Trần Kiều Ngọc Bài 2: VT TKN – Dối Trá, Giấu Đầu, Lòi Đuôi! (xin click vô đây)
Trần Kiều Ngọc Bài 3: Dẫu có sai lầm, nhưng xin ĐỪNG PHẢN BỘI! (xin click vô đây)
Trần Kiều Ngọc Bài 4: Phỏng vấn LS Lê Đình Hồ: TKN toan tính thâm nhập Sàigòn Times từ lâu! (xin click vô đây)
Trần Kiều Ngọc Bài 5: TRẦN KIỀU NGỌC thú nhận, “Con chỉ chống cái ác, chứ con không chống cộng! (xin click vô đây)
Trần Kiều Ngọc Bài 6: TKN công khai thách thức: CON KHÔNG CHỐNG CỘNG! (xin click vô đây)
Trần Kiều Ngọc Bài 7: “Nhờ cháu, nên cộng đồng biết rõ ai chống cộng cuội!!!” (xin click vô đây)
Trần Kiều Ngọc Bài 8: BS Hoàng trốn tránh SỰ THẬT “KHÔNG CHỐNG CỘNG” CỦA TKN!  (xin click vô đây)

TRẦN KIỀU NGỌC VÀ BỘ SÂU VIỆT TANH TRÁ HÌNH - Ở PHÚT 1.29 THẤY CÓ 3 NHÂN VẬT NÓI CHUYỆN TRONG ĐÓ CÓ 1 GƯƠNG MẶT MẤY NGÀY TRƯỚC XUẤT HIỆN TRÊN VIDEO ĐỀ CẬP CHUYỆN Ý DÂN MUỐN TÁI CHIA CẮT VIỆT NAM THÀNH ĐÔI NHƯ TRƯỚC 1975 - TÉ RA NHÂN VẬT NẦY CŨNG LÀ VIỆT TANH NHƯ SBTN./-TCL

BÀI CŨ ĐĂNG LẠI CHO THẤY CẤP BẬC CỦA PHAN NHẬT NAM LÀ THIẾU ÚY (*ĐẠI ÚY CHỈ LÀ LON HÀM MANG TRONG PHÁI ĐÒAN LIÊN HỢP 4 BÊN)

Ở CUỐI BÀI TỰ PHAN NHẬT NAM GHI:"
Nhảy Dù Cố Gắng! Đích Thân về cõi Phật bình an (*).

Thiếu Úy Phan Nhật Nam
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919"

  ===================

PHAN NHẬT NAM CHỈ LÀ THIẾU ÚY - CÓ NGƯỜI PHONG CHO HẮN LÀ ĐẠI ÚY MÀ HẮN CỨ ỠM Ờ CHƯA BAO GIỜ ĐÍNH CHÁNH

Hình như PHAN NHẬT NAM nằm trong phái đòan trao trả tù binh nên được cho mang lon Đại Úy cho có vẻ có thớ với VC. Như ở đây PNN tự ghi cấp bậc là THIẾU ÚY./-TCL/Mv.


Ngày 12 Tháng 5, 2015, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù trở về cõi vĩnh hằng nơi Sydney, Úc hưởng thọ 87 tuổi.


Ông là sĩ quan cấp bậc cao nhất của Quân Lực VNCH bị bắt tại trận địa, Mặt Trận Hạ Lào, Hành Quân Lam Sơn 719- Tháng 2, 1971. Bài viết như một lời chào kính cuối cùng gởi đến Người Lính Huynh Trưởng – Chiến Binh Nhảy Dù Cố Gắng.

KheSanh
 Cũng nhân cơ hội nhìn lại một chiến dịch quân sự để thấy ra những biển lận hiểm độc chính trị đối với vận mệnh Việt Nam nói chung và Quân Lực VNCH nói riêng.
Dẫn Nhập
BanDoHanhQuan
42314VNTrail
Từ Đông Hà, thị trấn cực bắc lãnh thổ miền Nam, Đường số 9 bắt đầu chạy về hướng Tây qua những vùng đồi Cam Lộ, Hương Hóa, Lao Bảo để cuối cùng đến Khe Sanh với tiền đồn Làng Vây, sát biên giới Lào-Việt. Qua biên giới, con đường tiếp tục đi dọc sông Tchépone một đoạn dài khỏang 40 cây số, giao tiếp với đường Hồ Chí Minh tạo nên vùng hậu cần quan trọng thuộc hệ thống Binh Trạm 604, 611 (lưu ý các phiên hiệu 604; 611- Có nghĩa, cơ sở đã thành hình từ những năm 60, 61- Thời điểm dựng bảng hiệu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 19/12/1960) của đường dây chuyển vận Bắc-Nam, nguồn huyết mạch sinh tử đối với binh đội cộng sản. Thế nên Bộ Tổng Quân Ủy Miền Bắc quyết chiếm giữ, duy trì vùng tiếp vận quan yếu nầy bằng mọi giá trong suốt cuộc chiến tranh xâm nhập, lật đổ Miền Nam.
LamSon719KeHoach
Tổng Công Kích đợt I Mậu Thân đầu năm 1968, miền Nam đã có hơn 19,000 người chết gồm dân và lính (số chính xác là 4,959 quân nhân VNCH tử trận và 14,300 thường dân thiệt mạng) Và đến năm 1970, toàn bộ sào huyệt hậu cần, từ chiến khu C, D miền Đông Nam Bộ đến Trung Ương Cục Miền Nam trên đất Miên bị phá vỡ… Giới chức Mỹ-Việt ước đoán tiềm lực xâm lược miền Nam của phía cộng sản phải có dấu hiệu đình hoãn, hoặc suy giảm, và chiến dịch đánh qua đất Lào (đầu năm 1971) được hình thành để thực hiện quan niệm: Cắt đứt đường tiếp vận Bắc – Nam với tên thường gọi, Đường mòn Hồ Chí Minh. Nhưng không đúng với thực tế, bởi đã là một hệ thống đường có khả năng để chiến xa hạng nặng di chuyển với ống dẫn dầu, hệ thống tiếp liệu, tiếp vận quan trọng bố trí dày đặt tại điểm sinh tử Tchépone để đổi lấy một số thời gian an toàn đủ hoàn thành các đợt rút quân; ký kết Hiệp Định Paris trên thế lợi, tiếp rút khỏi Đông Dương như ứng cử viên tổng thống (tháng 10/1968) Nixon đã từng hứa hẹn với cử tri Mỹ.
Bando719
Sự thật không xẩy ra như ước tính và hy vọng (!), dù với tỷ lệ khả thể nhỏ nhất. Để yểm trợ cho những mặc cả chính trị tại Hội Nghị Ba-Lê đang đi vào thời điểm quyết định (mà sau nầy sẽ thấy rõ hơn ở năm 1972), phía Hà Nội lại chuẩn bị cho lần xâm lược mới qua việc thành lập Quân Đoàn 70B chỉ huy hành quân ba sư đoàn 304, 308 và 320 – những đơn vị phụ trách toàn vùng Nam Lào, bao gồm khu Phi Quân Sự, lãnh địa cực Nam của Miền Bắc. Tướng Võ Nguyên Giáp từ Tháng 10/1970 đã ra chỉ thị cho những đơn vị trên chuẩn bị kế hoạch phản công trường hợp quân đội miền Nam tiến đánh vùng Nam Lào qua việc thiết lập những vị trí pháo, khu vực phục kích, những vùng trực thăng (có thể) đổ quân.. Có nghĩa: Phía Bắc quân đã chuẩn bị kế hoạch phản công từ khi chưa có lệnh Hành Quân Lam Sơn 719 trước những bốn tháng!
Một.
Lam Sơn 719, Như thế nào? Để làm gì?
LenhHanhQuan
Kế hoạch Hành Quân Lam Sơn 719 được thiết lập và Ngày 8 Tháng Hai, 1971, chiến dịch bắt đầu với vùng hậu cần Tchépone là mục tiêu cần phải đánh chiếm, giữ vững trong một thời hạn đủ để phía cộng sản phải giảm mức tấn công tại Miền Nam (do thiếu tiếp vận, yểm trợ chuyển đi từ Miền Bắc). Thêm một lần, vùng địa đầu Quảng Trị “được” chọn lựa làm nơi chốn cho cuộc huyết chiến, giao tranh. Nhưng cũng không hẳn như trên đã kể, bởi cuộc hành quân nầy tự khởi đầu được trù định theo yêu cầu chiến lược của phía Mỹ: Chính phủ Mỹ thiết kế chiến lược và quân Nam là nhân tố thực hiện chiến thuật.
KheSanh
Từ phòng tuyến Khe Sanh, đại quân Miền Nam được tổ chức nên thành ba lực lượng tấn công chính với ba hướng tiến quân, lấy đường số 9 làm địa giới trung tâm khu vực trách nhiệm. Giai đoạn thứ nhất của cuộc hành quân khai diễn đúng ngày 8 tháng 2. Hai Tiểu Đoàn 39, 21 và Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn I Biệt Động; Tiểu Đoàn 2, 3 Dù và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn III Dù do Đại Tá Nguyễn Văn Thọ chỉ huy được trực thăng vận xuống chiếm đóng, thiết lập, trấn giữ những căn cứ hỏa lực từ bắc xuống nam, tả ngạn sông Tchépone, nơi các cao điểm được đặt tên: Ranger North (39BĐQ); Ranger South (21BĐQ); Căn cứ hỏa lực 31 (TĐ3ND); Căn cứ hỏa lực 30 (TĐ2ND) để bảo vệ mặt bắc trục tiến quân trung phong trên Đường số 9. Từ căn cứ Hàm Nghi, đông Khe Sanh, Lữ Đoàn I Thiết Kỵ (đặt thuộc quyền hành quân Bộ Tư Lệnh SĐ Dù) có Tiểu Đoàn 8 Dù tùng thiết theo đường bộ tiến tới Bản Đông, tên quân sự: Căn cứ A Lưới, do Tiểu Đoàn 9 và pháo binh Dù thiết lập căn cứ hỏa lực; Căn cứ Béta (Bravo), hay Bắc Bình do Tiểu Đoàn 1 Dù (sau nầy tăng cường TĐ7 Dù), bộ chỉ huy Lữ Đoàn I Dù chỉ huy tổng quát cánh quân nầỵ
Sư Đoàn I Bộ Binh chịu trách nhiệm cánh quân mặt Nam Đường 9, hữu ngạn sông Tchépone, trực thăng vận các tiểu đoàn cơ hữu vào vùng, thiết lập các căn cứ hỏa lực Hotel, Don, Delta và Delta1 để bảo vệ cạnh sườn trục tiến quân trung tâm mà chủ yếu để nhịp tiến quân của Lữ Đoàn I Thiết Kỵ và Lữ đoàn I Dù đến đúng mục tiêu Tchépone như đã dự liệụ. Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến làm thành phần trừ bị ở giai đoạn nầỵ
07 Feb 1971, Near Khe Sanh, South Vietnam --- American and Vietnamese soldiers travel in personnel carriers during Operation Dewey Canyon II/Lam Son 719, which is aimed to reopen and secure Route 9 and reoccupy Khe Sanh as a forward supply base. --- Image by © Bettmann/CORBIS
07 Feb 1971, Near Khe Sanh, South Vietnam — American and Vietnamese soldiers travel in personnel carriers during Operation Dewey Canyon II/Lam Son 719, which is aimed to reopen and secure Route 9 and reoccupy Khe Sanh as a forward supply base. — Image by © Bettmann/CORBIS
Tướng Abrams đã thay thế Tướng Westmoreland từ giữa năm 1968, và bắt đầu áp dụng chiến thuật “Chiếm và Giữ” thay vì “Lùng và Diệt” của Westmoreland. Với chiến thuật mới, Abrams chỉ cần khai triển những đơn vị tương đối nhỏ (không tập trung quân vào những chiến dịch lớn với những đại đơn vị, như người tiền nhiệm) và quan trọng hơn hết là chuẩn bị những đợt rút quân từ tháng 6 năm 1969, với những đơn vị vùng châu thổ sông Cửu Long, nơi được đánh giá là tình hình an ninh tương đối ỗn định, cụ thể trong Mậu Thân 1968, không có thành phố, tỉnh lỵ nào bị cộng sản chiếm cứ và gây tác động tổn thất lớn như ở Huế, Sài Gòn. Ngày 8 tháng 6, 1969 kế hoạch rút 25,000 quân chính thức được công bố với đơn vị đầu tiên, Sư Đoàn 9 Bộ Binh rời khỏi Căn Cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Tiếp theo, 29 tháng 9, quân số Mỹ ở Thái Lan rút đi 6000 ngườị Ngày 9 tháng 10, sau nhiều tính toán đầy kịch tính, Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird công khai trình diễn màn kịch lớn – Việt Nam Hóa Chiến Tranh – Viên đá tảng của chiến lược Nixon.
Cũng cần nói rõ thêm về yếu tố chính trị đã dẫn đến Hành Quân Lam Sơn 719. Không phải đến thời điểm 69, 70 nầy, Tổng Thống Mỹ Nixon, người được Billy Graham đánh giá và mô tả chính xác: “người được chuẩn bị kỹ nhất để làm tổng thống nước Mỹ” đã phát hiện và xây dựng nên kế hoạch. Nhưng đúng ra từ tháng 10, 1968, đang trong giai đoạn vận động tranh cử, Nixon đã nhận ra “ẩn số” của vấn đề Việt Nam – Rút quân đội Mỹ khỏi chiến trường – Lời giải phương trình nầy không do ai xa lạ làm nên, chính tổng thống đảng Dân Chủ, Johnson đã gióng trước qua Thông Cáo Chung Manila ngày 25 Tháng 10, 1968 (được hoàn thành với nguyên thủ các nước tham chiến tại Việt Nam gồm Phi, Úc, Đại Hàn, Tân Tây Lan, và Thái Lan) – Với điều khỏan trụ cột: Quân Mỹ và Đồng Minh sẽ rút hỏi miền Nam Việt Nam cùng lần quân với Bắc Việt. Hà Nội cũng phải cam kết không xâm nhập, yểm trợ lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam (?!)
Tuy đánh giá kế hoạch nầy là “không tưởng” với các phụ tá trong ban tham mưu tổ chức tranh cử, nhưng Nixon, con người với mẫn cảm chính trị tinh tế cũng đã nhận ra giải pháp thật sự có khả năng thực hiện để giải quyết mối rối Việt Nam – Cũng là phương cách hữu hiệu và an toàn nhất để “tháo gỡ” mối liên kết Nga-Hoa, đánh vỡ phần cân bằng cố kết của phe cộng sản trong chiến lược chính trị thế giớị Việt Nam Hóa Chiến Tranh Đông Dương với sự rút đi của quân lực Mỹ là bước chiến thuật vô cùng tinh tế lợi hại (lẽ tất nhiên phải chịu những hậu quả bất lợi cục bộ ban đầu) để tổ chức lại, tái phối trí lực lượng quân sự Mỹ ở vùng Châu Á-Thái Bình Dương (vấn đề Miền Nam có tồn tại được hay không theo sau kế hoạch nầy là một chuyện khác). Hành Quân Lam Sơn 719 với xương máu Lính Việt nơi vùng heo hút Khe Sanh, Tchépone là “nền tảng ban đầu xây dựng nên Trật Tự Thế Giới Mới” hôm nay, với sự biến mất không cơ hội hồi phục của lực lượng cộng sản đệ tam. Qua thế kỷ 21, chúng ta có thể nói chắc như thế mà không sợ sai lầm.
TienVaoLaoTrở lại với chiến trận, bắt đầu từ giai đoạn chuẩn bị lệnh hành quân đến ngày N của chiến dịch đã có những sự kiện “bất thường” tai hại để sau nầy biến hành tai họa vô lường đối với các đơn vị tham chiến. Lấy lý do bảo mật, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, cơ quan chỉ huy tổng quát cuộc hành quân hạn chế tối đa nhân sự tham dự việc soạn thảo lệnh, chỉ gồm những giới chức cao cấp (Phòng Ba, Hành Quân và Phòng Hai, Quân Báo), ban tham mưu quân đoàn dưới quyền Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, có tham dự của Trung Tướng James W. Sutherland, Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV, đơn vị Mỹ trách nhiệm không, pháo yểm và tiếp liệu cho chiến dịch với hậu cần ở Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, Đà Nẵng.
Điển hình cho sự hạn chế nầy, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, đơn vị giữ nhiệm vụ nỗ lực chính cuộc hành quân chỉ được thông báo vào “Ngày 2 Tháng Hai – Một tuần trước khi chiến dịch khai diễn”. Sĩ quan tham mưu, chỉ huy các đơn vị trực thuộc của sư đoàn Dù ra đến Đông Hà, chuẩn bị vào vùng hành quân mới biết nhiệm vụ đánh qua đất Lào – Tin tức do dân chúng truyền rao!! Nhưng thực tế, “bảo mật“ đã là một điều bi hài, sau khi chiến dịch kết thúc, cơ quan CIA tổng kết, lượng giá kế hoạch, diễn tiến hành quân, đã phát hiện ra điều nguy biến đầu tiên và chính yếu: Toàn bộ lệnh, phóng đồ hành quân, những căn cứ hỏa lực dự trù, điểm đổ quân, thậm chí vị trí hỏa tập tiên liệu, lẽ tất nhiên tọa độ phi pháo yểm (của phía Hoa Kỳ, tùy thuộc vào mức độ thông báo từ phía Mỹ đối với bộ tư lệnh Quân Đoàn I)… Tất cả tài liệu “bảo mật” nầy đồng được chụp lại, sao y phó bản từ nơi in ấn lệnh hành quân!!
Cũng không loại bỏ nguồn tin bị thất thoát từ bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn, nơi Phủ Tổng Thống đường Công Lý. Sau 30 Tháng Tư, 1975, những điều tồi tệ tai họa nầy đã là sự kiện đương nhiên được xác định.
Cũng trong ý hướng bảo mật cuộc hành quân, Bộ Tư Lệnh Quân Đội Mỹ ở VN- MACV ra lệnh “cấm phổ biến” đối với báo chí, phát ngôn viên quân sự được lệnh không đề cập đến diễn tiến cuộc hành quân. Nhưng, tất cả đã là một “lầm lẫn vụng về”, như Kissinger mô tả về việc “cấm vận tin tức”, vì những nguồn tin đã lan tràn khắp nơi, bắt đầu từ nhiều nguồn mối. Và khi báo lên khuôn ở Hoa Thịnh Đốn đã có đầy đủ tin tức, kể cả tin về vụ việc “cấm vận”. Cuối cùng, Ngày 4 tháng Hai, lệnh cấm vô ích nầy được chính thức bãi bỏ. Thật sự, từ Ngày 2, Tháng Hai, một tuần trước “Ngày N-Ngày Khai Diễn” của chiến dịch, tin tức và lời tố cáo “hành vi xâm lăng Lào” đã tràn đầy trên trang nhất của báo chí Mỹ cũng như toàn thế giới.
Dân biểu George Aiken, Tiểu Bang Vermont, dẫu từ dưới thời Johnson vốn là người yểm trợ chính quyền đối với sách lược thực hiện ở Việt Nam, nhưng đối với cuộc hành quân lại đặt nên vấn đề với quốc hội “Dân Mỹ có quyền “phải” được biết về tin tức mà cả thế giới đã biết theo như Tu Chính An Thứ Nhất ấn định..”
Ngày N-8 Tháng 2, 1972 Lệnh Hành Quân Lam Sơn 719 đã là một “bạch văn” phỗ biến rộng rãi khắp thế giới, chỉ trừ những người lính đổ bộ xuống bãi đáp đang bị pháo kích, trên Đường Số 9 dày dặt mìn chống chiến xa mà bộ đội cộng sản đã có một thời gian lâu dài để chuẩn bị chôn dấu. Cuối cùng, tai họa đã thực sự xẩy ra khi chiếc trực thăng chở phái đoàn báo chí ngoại quốc có Đại Tá Phạm Vy, Trưởng Phòng 4, kiêm Tham Mưu Phó Tiếp Vận Quân Đoàn bị bắn rơi trong tuần thứ hai khi chiến dịch đang khai diễn – Toàn bộ hồ sơ trận liệt, diễn tiến hành quân đã bị phía cộng sản thâu giữ – Sự kiện Lệnh Hành Quân Lam Sơn 719 bị mất không hề được báo cáo! Thế nên vấn đề “bảo mật” của cuộc hành quân thật sự đã là một hài kịch thảm hại, và Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà gánh hết phần hậu quả tai họa oan khốc nầỵ
Đối lại với kế hoạch trên của phía Việt-Mỹ, Đoàn 70B với ba sư đoàn cơ hữu thuộc vùng giới tuyến và Hạ Lào, 304, 308, và 320; với thành phần yểm trợ tác chiến gồm một trung đoàn pháo, một trung đoàn chiến xa, quân số tổng cộng khỏang 36,000 người. Do có được đầu mối từ nhiều nguồn tin mật như phần trên vừa trình bày, Hà Nội rất mực yên tâm dồn quân vào vùng chỉ để một đơn vị, Trung Đoàn 64, Sư Đoàn 320 giữ mặt Bắc vùng phi quân sự. Do được bảo mật tối đa, áp dụng kỹ thuật ngụy trang tinh vi, quân cộng sản bố trí một trận địa pháo dày đặt từ cối 80, pháo tầm xa 130 ly, hỏa tiển 122 ly theo một chiến thuật mới mẻ, “phân tán pháo binh-tập trung hỏa lực” để khi muốn tấn công một căn cứ hỏa lực, nhiều vị trí pháo đổ xuống cùng một lúc, phía quân Miền Nam khó lòng chỉ định mục tiêu phản pháo.
lamson_operation14
Song song với trận địa pháo, Bắc quân thiết lập một hệ thống phòng không chung quanh các bãi đáp, đường tiếp cận của phản lực khi yểm trợ, hoặc của trực thăng khi đáp xuống một căn cứ, ngoài đại liên phòng không 12ly7 thông thường, còn có những đại bác phòng không hạng trung và hạng nặng, 23, 37 và 57 ly. Quan trọng hơn hết là chiến xa T54 lần đầu tiên được dùng vào chiến trường Miền Nam, loại chiến xa hạng nặng nầy vượt trội khả năng lẫn hỏa lực so với chiến xa M41 thường dùng của quân đội miền Nam, chỉ chiến xa M48 mới có khả năng đương cự tương đương.
Đối với T54, bộ binh miền Nam với hỏa tiển chống chiến xa M72 không thể triệt hạ được. Thế nên sau nầy, khi trận chiến bùng vỡ, trước T54, người lính chỉ còn phương tiện duy nhất- Dùng chính thân xác mình với lựu đạn tay để phá hủy chúng mà thôi.
Với chuẩn bị chiến trường chu đáo, bảo mật tuyệt kỹ, quân số vượt trội, hỏa lực áp đảo, Bắc quân bắt đầu trận đánh với chiến thuật tập trung tấn công từng cụm căn cứ hỏa lực theo hướng từ Bắc xuống Nam.
Hai.
Trận chiến
Căn cứ Hỏa lực Delta 1 cách biên giới khoảng 9 dặm trên đất Lào
Căn cứ Hỏa lực Delta 1 cách biên giới khoảng 9 dặm trên đất Lào
Căn cứ Ranger North của Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân bị tấn công trước nhất. Sau nhiều ngày thám sát, dò đường chung quanh căn cứ, sáng ngày 19 tháng Hai, 1971, Trung Đoàn 102, Sư Đoàn 320 (tỉ lệ 4 đánh 1) sau nhiều giờ pháo kích bằng đại pháo tầm xa 130 ly, đến lượt sơn pháo bắn thẳng che cho bộ binh tấn công từ mặt đông căn cứ, nơi tuyến phòng thủ mỏng manh nhất. Vơi yểm trợ hữu hiệu của pháo binh bạn từ những căn cứ xung quanh và phi cơ oanh tạc, tác xạ sát cận tuyến phòng thủ, Biệt Động Quân giữ vững căn cứ qua ngày thứ hai, mãi đến đêm tối trận chiến mới tạm chấm dứt.
Căn cứ Hỏa lực Delta 1 cách biên giới khoảng 9 dặm trên đất Lào
Căn cứ Hỏa lực Delta 1 cách biên giới khoảng 9 dặm trên đất Lào
Tin căn cứ TĐ39 bị đánh bay về Sài Gòn, Tổng Thống Thiệu ra lệnh Trung Tướng Lãm tạm đình chỉ kế hoạch tiến chiếm Tchepone như trù liệu vơi Lữ Đoàn I Dù và thiết kỵ?! Nhưng cũng có ý kiến sáng suốt, đấy là Tướng Abrams đã thúc dục Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên hãy ra lệnh Tướng Lãm đừng để phí thời gian, lúc cộng sản chưa chuẩn bị đủ. Ngày 14, Abrams quá nóng ruột, đích thân cùng Tướng Viên ra Đông Hà gặp Tướng Lãm và Sutherland để quan sát tại chỗ và dục ông Lãm hãy khai triển gấp Sư Đoàn I Bộ Binh trên những cao độ nam Đường 9 để bảo vệ cạnh sườn cho nhảy dù và thiết kỵ tiến chiếm Tchépone như kế hoạch, dự liệu trong vòng ba đến năm ngày. Tướng Lãm đã để khỏang thời gian quý giá nầy trôi qua cho đến ngày 18, 19 như vừa nói trên.
hlbdq
VNCH-Tank@LangVei
Chẳng hiểu quá vâng lời ông Thiệu hay không đủ tự tin, Tướng Lãm đình chỉ lực lượng thiết giáp ngưng tiến quân, không có một quyết định, ý kiến nhỏ về, từ thực tế chiến trường. Hơn thế nữa, mối liên hệ “không cộng tác” giữa những viên tướng tư lệnh sư đoàn (Tướng Đống, Nhảy Dù; Tướng Khang, TQLC) với Tướng Lãm lại là yếu tố tai hại ảnh hưởng không nhỏ đến những quyết định quan trọng tại chiến trường.
08 Feb 1971 --- Lt. General Hoang Xuan (South Vietnam Commander of I Corps) is shown outdoors with troops. --- Image by © Bettmann/CORBIS
08 Feb 1971 — Lt. General Hoang Xuan (South Vietnam Commander of I Corps) is shown outdoors with troops. — Image by © Bettmann/CORBIS
SĐ320 cộng sản thay đổi các đơn vị cơ hữu tiếp đánh vùi TĐ39, quyết dứt điểm Ranger North để có khí thế ban đầu. Ngày 20, trực thăng cố vào vùng để tản thương và tiếp tế đạn cho TĐ39, xạ thủ phòng không cộng sản bắn hạ một trực thăng tản thương, y tá Dennis Fujii phải ở lại cùng căn cứ. Trong cái rủi có điều may, Fujii trở thành y tá của căn cứ kiêm luôn nghiệp vụ hướng dẫn phi cơ oanh kích cận phòng. Cuối cùng, Fujii cũng được móc ra, nhưng trực thăng chở anh lại bị trúng đạn phải đáp khẩn cấp xuống Ranger South.
biet-dong-quan-sat-62-728
Viên y tá trở nên là nhân chứng sống cho cuộc chiến đấu kiên cường của Biệt Động Quân, khi sau nầy có những tay viết báo muốn khai thác khía cạnh bất lợi đối với quân miền Nam. Đã có nhiều lúc, những phi công F4 Phi Đoàn 40 Chiến Thuật nhìn thấy binh sĩ TĐ39 nằm trong màn lửa bom Napalm do họ thả xuống chung quanh căn cứ. Không được tiếp tế đạn, lính TĐ39 Biệt Động phải xử dụng lại súng, đạn của kẻ địch để tiếp tục trận chiến. Cuối cùng, chiều tối ngày 21 tháng Hai, sau hơn ba ngày đêm đương cự, với 178 người chết và bị thương nặng, quân số Tiểu Đoàn 39 chỉ còn 107 người, kể cả bị thương nhẹ có thể chiến đấu; quân cộng sản xử dụng một lực lượng (không phải gấp ba, bốn lần hơn như những ngày đầu trận đánh) tới 2,000 người với vũ khí mới trang bị, để thay thế cho hơn sáu trăm xác bỏ lại lềnh kênh quanh căn cứ (không ảnh đếm được số chính xác là 639), quyết trả hận biệt động quân.
Nửa đêm, nương bóng tối, TĐ39 phải bỏ căn cứ rút về Ranger South. Cộng quân không chịu mất đà, dồn nỗ lực pháo cối dập xuống căn cứ Nam (Ranger South). Để giữ tinh thần chiến đấu cho binh sĩ còn lại và đỡ gánh nặng cho Tiểu Đoàn 21, một cuộc hành quân không vận với phối hợp chặt chẽ giữa phi cơ chiến thuật và trực thăng võ trang, 13 trực thăng đã hoàn tất một cuộc tải thương chớp nhoáng, lấy ra được 112 thương binh kể cả anh chàng “tiền sát viên bất đắc dĩ” Fujii. Tiểu Đoàn 21 sau khi mất điểm tựa phía Bắc (Ranger North), cùng thành phần còn lại của TĐ39 rút về Đồi 31 của nhảy dù, sau đó được di tản khỏi vùng hành quân.
16 dặm bên trong lãnh thổ Lào, điểm xâm nhập sâu nhất mà quân Nam VN vào được trong 3 tuần đầu, các binh sĩ Nam VN theo dõi hai cuộc không kich của Mỹ. Một là cuộc dội bom B-52 xuống các vị trí quân địch ở một sườn đồi bên cạnh, xa chưa tới 3 dặm. Mặc dù bị không kích dữ dội như vậy, quân Bắc Việt đã tái lập được căn cứ pháo binh của họ trong vùng mục tiêu và đã tiếp tục pháo kích từ nơi đó chỉ 12 giờ đồng hồ sau.
16 dặm bên trong lãnh thổ Lào, điểm xâm nhập sâu nhất mà quân Nam VN vào được trong 3 tuần đầu, các binh sĩ Nam VN theo dõi hai cuộc không kich của Mỹ. Một là cuộc dội bom B-52 xuống các vị trí quân địch ở một sườn đồi bên cạnh, xa chưa tới 3 dặm. Mặc dù bị không kích dữ dội như vậy, quân Bắc Việt đã tái lập được căn cứ pháo binh của họ trong vùng mục tiêu và đã tiếp tục pháo kích từ nơi đó chỉ 12 giờ đồng hồ sau.
Chiến sử Lam Sơn 719 đoạn đầu với Biệt Động Quân được Tướng Sutherland đánh giá: “Một chiến thắng lớn của Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, cho dù có những bôi bẩn ác ý do đám phóng viên tụ tập tại Khe Sanh khai thác hình ảnh ăn khách “lính bám càng trực thăng” trở về từ Hạ Lào do một vài binh sĩ trong cơn hốt hỏang, nhân lần tải thương kể trên đã bỏ trốn khỏi vùng hành quân. Ngoài ra, có một sự kiện xẩy ra nơi xa nhưng quả thật đã ảnh hưởng trực tiếp đến chiến trường Hạ Lào – Nếu như Tướng Đỗ Cao Trí không tử nạn máy bay (đến giờ nầy vẫn còn là một nghi vấn) và ông có mặt tại Khe Sanh trong ngày 23 Tháng Hai – Ngày Biệt Động Quân rời bỏ căn cứ thì có lẽ tình thế Lam Sơn 719 đã đổi khác. Bởi đã hơn một lần, với những đơn vị biệt động như những Tiểu Đoàn 21 và 39 nầy, năm 1970, Tướng Trí đã một lần tạo nên kỳ công ở chiến trường Campuchia. Lịch sử rất nhiều lần bị biến đổi hẳn do những nguyên nhân rất nhỏ và bất ngờ. Bi kịch Hạ Lào tiếp diễn với lực lượng nhảy dù nơi Đồi 31 và 30 khi mặt Bắc hoàn toàn trống trải nguy nan.
Trong vụ không kích khác tại cùng khu vực, các phản lực cơ Không quân Mỹ ném bom napalm vào quân địch. Lần này mục tiêu, được đánh dấu cho các phản lực cơ bằng trái khói, là một điểm tập trung bộ đội Bắc Việt đang chuẩn bị tấn công. Thông tin về cuộc tấn công sắp xảy ra được cung cấp bởi một tù binh Bắc Việt gần chết, là người đã bị thương và bị bắt trong đêm hôm trước.
Trong vụ không kích khác tại cùng khu vực, các phản lực cơ Không quân Mỹ ném bom napalm vào quân địch. Lần này mục tiêu, được đánh dấu cho các phản lực cơ bằng trái khói, là một điểm tập trung bộ đội Bắc Việt đang chuẩn bị tấn công. Thông tin về cuộc tấn công sắp xảy ra được cung cấp bởi một tù binh Bắc Việt gần chết, là người đã bị thương và bị bắt trong đêm hôm trước.
Dư luận chính trị thế giới nói chung và riêng nước Mỹ thật không hề công bằng đối với quân lực Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa; không phải những tiếng lời phát xuất từ số đông quần chúng bình dân hoặc những bài báo độc địa, xuyên tạc của đám ký giả ngoại quốc hạng nhì, nhâng nháo nơi những quán rượu Sài Gòn; nhưng khởi động từ những nhân vật có thế lực, ảnh hưởng, tác động đến cục diện toàn cầu như Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Than; Trưởng Khối Đa Số Thượng Viện Mỹ, Mike Mansfield… Tất cả những nhân vật tiếng tăm nầy đồng dấy lên chiến dịch tố cáo: “Quân đội Mỹ tấn công chiếm đóng Lào!”, tức hàm ý cáo buộc lực lượng Mỹ của Tướng W. Sutherland qua hành quân Dewey Canyon, yểm trợ quân đội Miền Nam thực hiện Lam Sơn 719.
15 Feb 1971, Phu Loc, South Vietnam --- Wounded Vietnamese Rangers await medivac chopper at Landing Zone
15 Feb 1971, Phu Loc, South Vietnam — Wounded Vietnamese Rangers await medivac chopper at Landing Zone “Phu Loc” about 1 km from the Laotian border. — Image by © Bettmann/CORBIS
Cần nói thêm một lần để xác định: Bộ binh Mỹ không hề vượt qua biên giới Việt-Lào ở địa điểm Làng Vây. Lẽ tất nhiên, những lời cáo buộc trên được lập lại nguyên bản với bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Liên Xô, Trung Cộng và Hà Nội. Cụm từ ngữ “Chiến tranh đế quốc xâm lược Mỹ”dần trở nên là một “thực thể” của diễn tiến chính trị thế giới – qua báo chí (cũng nơi đất Mỹ) – thúc dục những đám phản chiến xuống đường kêu gào “hòa bình” và “giết Nixon cùng tất cả những kẻ nào chận bước tiến (của chúng ta) tới… tự do”. Những lời đao búa nầy của David Hilliard, thủ lãnh nhóm Báo Đen được Washington Post tán tụng: “… Xuyên sâu những ngôn từ mạnh mẽ hùng hồn nầy, chúng ta khám phá ra những điều kỳ lạ và đẹp đẽ biết bao. Họ (những kẻ phản chiến) đã là hỗ trợ cho những điều tốt lành nhất đối với đất nước!!”.
Tất cả những cáo buộc sai lạc hàm hồ nầy được thành hình từ đầu Tháng 2, 1971, khi lực lượng VNCH còn ở trong lãnh thổ Việt Nam. Những kẻ trên hoàn toàn không biết (do ngu muội) hoặc không muốn biết (do ác ý) sự kiện: “Quân xâm lược thực thụ phải là đoàn quân có danh hiệu Quân Đoàn 70B của cộng sản Bắc Việt. Để sau 1975 được được chính Tổng Bí Thư Lê Duẩn hãnh diện xác nhận: Ta đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô”
Nhắc lại thêm một lần cũng không không thừa: Binh đoàn quân đội chính quy cộng sản Bắc Việt đã thành hình và có mặt nơi đất Lào từ năm 1970. Chính phủ Lào ở Vạn Tượng cũng không nói những gì khác và đúng hơn về những điều gì đang xẩy ra trên đất nước họ.
Cánh quân trung phong gồm Lữ Đoàn I Nhảy Dù với các Tiểu Đoàn 1, 8, 9 và Lữ Đoàn I Thiết Kỵ từ căn cứ Hàm Nghi tiến chiếm những những mục tiêu Bravo, Alpha, A-Lưới trên Đường 9 không mấy khó khăn dù hướng tiến quân đã bị gài đặt mìn bẩy từ nhiều ngày qua. Căn cứ tiền phương A Lưới, cách Tchépone khỏang dưới mười dặm được thiết lập vào buổi chiều ngày 8 đúng như dự định, bộ phận bộ binh Bắc Việt giữ chốt trên Đường 9 không ngăn nổi sức tiến quân nhanh chóng, thần tốc của nhảy dù và thiết giáp. Hơn thế nữa những pass B52 đánh theo yêu cầu chiến thuật của lực lượng dưới đất, dọc hai bên con đường đã hủy diệt phần lớn cánh quân phục kích nầy. Các đơn vị nhảy dù trên Đường 9 khám phá nhiều kho tàng vũ khí quan trọng, gồm 3,000 xe đạp mới, cũ, kho nhiên liệu xăng, dầu cặn, áo quần, lương khô Trung Cộng, Nga lần đầu tiên được xử dụng ở chiến trường miền Nam và hằng trăm, ngàn xác chết vương vải không toàn thây của những đơn vị Bắc Việt.
07 Feb 1971, Near Khe Sanh, South Vietnam --- Vietnamese soldiers travel in personnel carriers, part of a procession which also includes American troops, during Operation Dewey Canyon II/Lam Son 719, which is aimed to reopen and secure Route 9 and reoccupy Khe Sanh as a forward supply base. --- Image by © Bettmann/CORBIS
07 Feb 1971, Near Khe Sanh, South Vietnam — Vietnamese soldiers travel in personnel carriers, part of a procession which also includes American troops, during Operation Dewey Canyon II/Lam Son 719, which is aimed to reopen and secure Route 9 and reoccupy Khe Sanh as a forward supply base. — Image by © Bettmann/CORBIS
Về chiến trường mặt bắc Đường 9, Tiểu Đoàn 2 và 3 Dù được trực thăng vận xuống hai Đồi 30, 31; hai căn cứ hỏa lực được thiết lập với chỉ danh của hai cao độ nầỵ Nhưng chiến trường không hề thuận tiện như những ngày đầu vì Bắc quân đã gióng trước với lính Dù qua máy truyền tin: “…chúng mầy sẽ biết thế nào là trận địa pháo của quân giải phóng!” Lời đe dọa không hề là giả thiết và cảnh địa ngục thật sự đã mở ra.
Chúng ta hãy chứng kiến một đoạn về trận chiến nơi Đồi 31, căn cứ hỏa lực Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn III Dù, cũng là vị trí đầu cầu của Tiểu Đoàn 3 Dù, dưới quyền chỉ huy của Trung Uý Phạm Đồng (tác giả Phan Hội Yên) được lệnh chiếm đóng trong những ngày đầu của chiến dịch. Viên Trung Úy Trung đội trưởng Trung Đội 2, Đại Đội 33, kể lại trong tập chuyện “Hạ Sĩ Khinh Binh”: “Tôi phất tay cho trung đội đồng loạt ném hết số mìn chiếu sáng về phía trước… Tách! Tách!…Xoè…xoè… Bốp, bốp… Ngọn lửa bùng lên dữ dội rồi lan nhanh về phía địch quân; râu tóc mặt mày chúng tôi cũng cháy nám khét lẹt. Thế thượng phong ngàn năm một thuở… Lửa cuộn trong tiếng quân reo. Lửa tràn lên theo cỏ tranh dòn dã, khói bốc mịt mù… Khói làm màn che cho quân ta tiến tới. Vùng vẫy trong bão lửa, quân xông lên.
Lưỡi lửa liếm một vòng cung, thắt gọn vị trí địch trong vùng hỏa công dữ dội. Những căn hầm được nguỵ trang kỹ lưỡng bằng cỏ tranh tiệp màu bỗng chốc trở thành mồi ngon cho ngọn lửa. Hầm đạn nổ tung tóa, cả vùng đồi nhanh chóng ngập tràn biển lửa. Địch quýnh quáng tung hầm tháo chạy, có kẻ trên lưng đang bốc khói.
Tổ khinh binh tràn lên đỉnh đồi chiếm lĩnh trận địa, thanh toán nhanh những ổ kháng cự yếu ớt còn sót lại.. Làm sao có thể chống cự được, khi trước mặt là lửa táp, khói thốc theo luồng gió lùa vào mồm, mũi… Chưa kịp dụi mắt, ngáp gió, lấy hơi, quân ta đã tiến tới, lưới đạn càn quét, quyết liệt… Trong ráng chiều chưa tắt, nắng xuyên qua khói, lửa giải xuống chiến trường những giải vàng lóng lánh, thấp toáng bóng quân chạy dọc ngang trên đỉnh đồi như phút giây linh thiêng hào hùng sông núi chuyển mình…”
Sau khi trung đội của Trung Úy Phạm Đồng đã chiếm lĩnh được mục tiêu với lần mất đi sinh mạng những chiến hữu thiết thân, những khinh binh Chí, đề-lô pháo binh Tâm, và chỉ dấu thua thiệt lớn nhất: Đại Uý Lê Thành Bôn, đại đội trưởng, tác giả của trận đánh hỏa công của đoạn viết kể trên. Đồi 31 trở nên cảnh chết tàn khốc vào ngày 25 tháng Hai: “Sau trận tập trung pháo kích, xe tăng địch lập tức ào ạt xung phong… Hai, ba, năm… bảy, tất cả mười một chiếc bỏ lại bộ binh (của phía Bắc quân), cùng lao xuống đồi về phía chúng tôi. Một chiếc đang bò ngang chông chênh trên sườn đồi lãnh ngay một trái 105 trực xạ, hất nhào xuống vực thẳm. Nhưng đoàn xe tăng vẫn tiếp tục vừa bắn vừa tiến và chiếm dần bãi trực thăng.
Hạ sĩ nhất Chính và tiểu đội khinh binh lãnh nhiệm vụ đón đánh đợt đầu khi tăng tiến qua bãi đáp, tiến vào yên ngựa hẹp (giữa hai đỉnh đồi) trước khi bám đánh khu vực phòng thủ trung tâm căn cứ. Chính dẫn theo Bình, Tám, Ngôn, mỗi người thủ sẵn một cây M 72 (hỏa tiễn chống chiến xa) đã ở vị trí chờ kích hỏa; Chuẫn úy Nghĩa, trung đội phó, đòi đi theo tổ khinh binh; mắt anh hừng hực uất hận bởi thấm đau từ lần đụng trận đầu tiên của đời lính, đã hiểu nghĩa tận cùng cào xé trước xác thân đồng đội.
Mỗi người chúng tôi quả có tâm lý của kẻ không đường trở lại, phải tiến lên phía trước, vượt qua hèn mọn của chính mình… Mất đi ý niệm phân biệt sống, chết. Mà có khi phải chết còn thanh thản hơn được sống!! Hai chiếc tăng ùn ùn tiến vào khu vực trung tâm, Nghĩa nhảy phắc lên chiếc thứ hai, thảy gọn trái M26 vào lòng pháo tháp. Anh chưa kịp nhảy xuống thì trúng đạn, nằm chồng lên xác địch thủ. Cùng lúc, có tiếng nổ “bục” tức tối, khói từ trong chiếc tăng bốc lên… Nhưng sao nó vẫn tiếp tục chạy! Quờ quạng được một đoạn ngắn, chiếc chiến xa nổ tan làm hai mảnh, pháo tháp bật ngược ra sau cùng xác Nghĩa.
Và trận đánh kết thúc với cảnh tượng vô vàn bi tráng mà phải là người trong cuộc mới có thể viết nên với những giòng đẫm máu như sau:
“… Ba phần tư ngọn đồi đã nằm trong tay địch, chúng tôi (Đại đội 31 và 33) chỉ còn giữ được một phần bộ chỉ huy tiểu đoàn và lữ đoàn, nhưng không còn ai trong những vị trí hầm chỉ huy cả, tất cả đã ra ngoài, sát vai tác chiến cùng khinh binh, xạ thủ nơi tuyến đầu; hệ thống truyền tin chỉ huy vẫn được duy trì ở cấp trung đội, dù trên thực tế, mỗi trung đội còn không quá mười người…
Tất cả khái niệm sống, chết đã trở thành vô nghĩa. Và cũng không còn thì giờ hoàn cảnh để chọn lựa. Những người lính còn lại của lữ đoàn đồng hăm hở lao lên trong cố gắng tuyệt vọng… Bắn… bắn, thụt thêm một trái M72 đi. Lựu đạn… lựu đạn… Những bóng áo rằn rì nhảy lên pháo tháp xe tăng địch, những thân người vùng vẫy cào cấu, lắt lẻo trên thành xe, tan nát dười lườn xích sắt. Bây giờ bộ binh địch đã phối hợp cùng chiến xa, tràn lên căn cứ… Mặt đối mặt với lưỡi lê, báng súng, lăn xả vào nhau, bắn giết, đâm chém… Hoặc loay hoay với những khối sắt không làm sao phá vỡ với tay trần, với vũ khí cá nhân.
Bom bầy, pháo lũ dội xuống… Bom của ta, pháo của địch, lưới lửa của cả hai bên đồng chụp xuống một chỗ, lính hai bên cùng chia nhau lãnh đạn… Những chiếc nón sắt rơi lông lốc, những đôi dép râu đứt quai nhầy nhụa trong dòng nước đỏ ối, đậm đặc đang dần kết thành giải suối máu lăn lóc chảy chậm xuống sườn đồi!!
Cuối cùng, hai Đại Đội 33, 34/TĐ3ND không thể nào giữ được Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 31 do quân Bắc Việt tập trung toàn bộ lực lượng bộ binh của mặt Bắc Đường 9 được pháo 130 ly yểm trợ, chiến xa T54 dẫn đầu… Những chiến xa hạng nặng nầy cày vỡ tất cả công sự chiến đấu của Đồi 31, đè sập hầm chỉ huy của Lữ Đoàn III nên Đại Tá Thọ đã yêu cầu pháo binh nhảy dù bắn tiêu hủy ngay trên vị trí phòng thủ. Trung Tá William. N. Peachey, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ158/Không Vận Mỹ từ trên chứng kiến những giây phút bi thảm cuối cùng của Đồi 31. Đến một lúc, lính Bắc Việt không cần phải nổ súng bởi những chiếc T54 chỉ việc đè lên những người lính nhảy dù trấn giữ đồi 31.
Cuối cùng, toàn bộ sĩ quan Lữ Đoàn III, Tiểu Đoàn 3 Dù, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh gồm Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Trung Tá Trần Văn Châu, Thiếu Tá Trần Văn Đức, Đại Úy Lê Đình Châu và nhiều sĩ quan trung cấp, hạ sĩ quan, binh sĩ bị bắt sống, phần đông đã bị thương, mất năng lực chiến đấu, hết đạn, vũ khí không còn xử dụng vào những ngày trước khi căn cứ bị tràn ngập.
DTTho
Lực lượng nhảy dù quả đã hẳn ưu thế chiến đấu khi bị bó chặt nhiệm vụ trên những cao độ không còn được yểm trợ liên hoàn, do để trống mặt Bắc khi các Tiểu Đoàn Biệt Động 21, 39 phải rời bỏ căn cứ như đã trình bày ở đoạn trên. Sự kiện mất căn cứ Đồi 31 cũng có nguyên do là đoàn chiến xa M 41 thuộc Thiết Đoàn 17 Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ có hai đại đội Tiểu Đoàn 8 Dù từ căn cứ A Lưới được lệnh di chuyển tăng cường cho Đồi 31 đã không đến kịp điểm hẹn. Toán quân nầy lại bị phục kích vào ngày sau khi trên đường tiến gần mục tiêu, cuối cùng nhờ B52 đã can thiệp hiệu quả bằng cách dội bom tiếp cận đội hình tiến quân, phá vỡ trận địa phục kích của Bắc quân. Sau hai pass B52, chiến trường hoàn toàn yên lặng, người sống sót nằm ngất trên mặt đất bị đào xới tung tóe lầy nhầy thịt xương người của các đơn vị bộ đội thuộc Sư Đoàn 320. Tổng số 800 xác chết là số lượng đếm được về đơn vị cộng sản bị giết bởi B52.
Căn cứ Đồi 31 thất thủ, Đồi 30 do Tiểu Đoàn 2 Dù trấn giữ còn lại trơ trọi suốt một vùng mặt Bắc Đường 9, và biến thành điểm lửa của toàn bộ hệ thống hỏa tập Bắc quân. Nhưng kỳ diệu thay, do bản lĩnh riêng của viên tiểu đoàn phó và sĩ quan hành quân, Thiếu Tá Nguyễn Văn Mạnh, Đại Úy Trần Công Hạnh, tiểu đoàn đã cầm cự được suốt một tuần sau và chỉ rời bỏ căn cứ khi Hotel (danh hiệu truyền tin của Đại Úy Hạnh) trực tiếp liên lạc với phi hành đoàn của các phi cơ yểm trợ chiến thuật và trực thăng Mỹ để tác xạ trực tiếp và dội bom lên ngay tuyến phòng thủ đơn vị…
Nương theo khe hở sống chết nầy, Tiểu Đoàn 2 rút khỏi vòng vây với quân số chỉ bị tổn thất tương đối. Hơn thế nữa, đơn vị nầy trên hướng di tản khỏi căn cứ còn mở đường cứu vây Tiểu Đoàn 7, đơn vị vào tăng cường cho TĐ1 và TĐ 8, hai tiểu đoàn nầy cũng đã bị tổn thất nặng trong tuần lễ cố giải vây cho Lữ Đoàn III Dù ở đồi 31 (Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Phan tử trận; hai tiểu đoàn phó, Trần Đăng Khôi, TĐ7; Đào Thiện Tuyển, TĐ8 bị thương nặng, phải di chuyển khỏi vùng hành quân). Cuối cùng, lệnh tiến chiếm Tchépone như dự trù với lực lượng nhảy dù và thiết kỵ trên đường 9 không hề được thi hành. Lời thúc dục, khuyến cáo của Tướng Cao Văn Viên, Abrams với Tướng Lãm tại Đông Hà ngày 16 tháng Hai về việc thực hiện quan niệm hành quân trên đã không hề được quan tâm. Nghi án sự chậm trễ và thay đổi kế hoạch điều động các đơn vị đến nay vẫn còn là một ẩn số chưa có lời giải thích thỏa đáng.
Ba.
Tchépone,
Chiếc bẫy sập đóng lại
 Crossroads at Tchepone - Ngã ba đường tại Sêpôn
Crossroads at Tchepone – Ngã ba đường tại Sêpôn
Khi lực lượng nhảy dù và thiết kỵ bị cầm chân ở A-Lưới thì việc tiếp tục tiến chiếm Tchépone với bộ binh chỉ còn là một “mục tiêu bề mặt”, cốt để biện hộ một cách tai hại về một ước tính quân sự sai lầm, nhằm mục đích yểm trợ cho một sách lược chính trị. Sách lược ấy được nhận ra, khi Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn báo cáo về Hoa Thịnh Đốn một nội dung khả thể, đêm 7 tháng 4 Tổng Thống Nixon có thể nói cùng dân chúng Mỹ: “Đêm nay tôi có thể báo cáo rằng chính sách Việt Nam Hóa đã thành công!!”, nhằm trấn an những nhóm biểu tình phản chiến, đòi cải thiện chế độ an sinh xã hội cho người da đen ở các tiểu bang miền Nam nước Mỹ.
Ngày 3 tháng Ba, hai Lữ Đoàn A, B Thủy Quân Lục Chiến từ Khe Sanh được đưa vào thay thế các đơn vị Sư Đoàn I Bộ Binh thuộc vùng trách nhiệm hai căn cứ Delta và Hotel. Như thế, mặt trận Hạ Lào chỉ còn một lữ đoàn TQLC làm thành phần trừ bị; cũng có nghĩa tương tự đối với toàn bộ lực lượng quân sự miền Nam. Những tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư Đoàn I rời bỏ vùng vừa bàn giao, tiến sâu về phía Tây, lập các căn cứ hỏa lực Sophia, Liz và LoLo trên các cao độ 748, 690, và 723, Đông-Nam mục tiêu Tchepone. Lolo thực sự chỉ là một bãi đáp chứ không hẳn là một căn cứ hỏa lực.
 Crossroads at Tchepone - Ngã ba đường tại Sêpôn
Crossroads at Tchepone – Ngã ba đường tại Sêpôn
Ngày 6 tháng Ba, một phi đội khổng lồ gồm 120 trực thăng Huey được trực thăng võ trang Cobra và phản lực chiến đấu yểm trợ bao vùng đổ quân bộ xuống bãi đáp Hope, bốn cây số Đông-Bắc Tchépone, sau khi B52 đã trải thảm dọn sạch khu rừng rậm hằng trăm năm không dấu vết người chung quanh bãi đáp. Cuộc không vận được xếp hạng là một trong những hành quân đường không lớn nhất chiến sử Đông Dương; năm 1954, lực lượng không quân vùng Tây-Bắc của Tướng Cogny chỉ có đúng hai trực thăng Alouette cho Chiến Dịch Castor để chiếm đóng Điện Biên Phủ.
Cuộc không vận đưa Tiểu Đoàn 4/Trung Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 2 vào vùng lửa Tchépone, đây là hai đơn vị ưu tú nhất của Sư Đoàn I do Trung Tá Lê Huấn và Trung Tá Trần Ngọc Huế chỉ huy; cả hai cùng Khoá 18 Trường Võ Bị Đà Lạt và được đánh giá là những sĩ quan xuất sắc của khoá. Nhưng dù hai tiểu đoàn trên có gồm những người lính can trường, được chỉ huy bởi những sĩ quan xuất chúng bao nhiêu, cứ điểm Hope mà hai đơn vị có nhiệm vụ đổ bộ xuống để rồi sau đó làm đầu cầu đột kích trong im lặng tuyệt đối vào “thị trấn Tchepone” đã là một nơi hoang vắng với những thây chết rải rác cũng có nghĩa “Kế Không Thành” mà Bắc quân giương ra đã hoàn tất.
lamson_operation10
Toàn bộ các bãi đáp, địa điểm nầy đã là những “điểm hỏa tập tiên liệu“ của pháo, cối, hỏa tiễn diện địa của bộ đội cộng sản. Kết quả bi thảm đương nhiên xẩy đến, Tiểu Đoàn Trưởng Lê Huấn tử trận, Trần Ngọc Huế bị bắt sống… Hai tiểu đoàn tan vỡ như những mảnh vụn của những khẩu pháo 105 thả xuống ở các căn cứ Hope, Sophia, Liz… Có những khẩu chưa hề bắn được một viên đạn, vì những lưới đạn quả thật chưa hề được thả xuống kịp trước khi các căn cứ tan vỡ. Ông Thiệu ra lệnh “rút quân” sau “chiến thắng Tchepone”, bất chấp lời khuyến cáo từ phía Tướng Abrams – Tăng cường Sư Đoàn 2 Bộ Binh cho mặt trận Hạ Lào và giữ chặt nút chận Tchépone để hoàn thành mục tiêu chiến lược – Cắt đứt đường tiếp vận Bắc-Nam của quân đội cộng sản.
Cuộc rút quân không chuẩn bị tất nhiên biến thành lần tháo chạy, khi các căn cứ lần lượt bị đánh vỡ, mất hẳn thế “yểm trợ liên hoàn – viên đá tảng cột trụ của chiến thuật Căn Cứ Hỏa Lực”. Sau Sư Đoàn Nhảy Dù của giai đoạn đầu, Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở giai đoạn hai, tiếp theo, đến lượt Sư Đoàn TQLC chịu lần phanh thây trên những đỉnh núi trần trụi dưới cơn mưa lũ đại pháo của Bắc quân được chuẩn bị từ một năm trước, năm 1970.
Thủy Quân Lục Chiến tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 với toàn bộ Sư đoàn. Tiểu đoàn 3 pháo binh yểm trợ
Thủy Quân Lục Chiến tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 với toàn bộ Sư đoàn. Tiểu đoàn 3 pháo binh yểm trợ
Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến nhận vùng trách nhiệm, bố trí các tiểu đoàn theo hướng Bắc-Nam. Tiểu Đoàn 4, 7, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A có pháo binh Tiểu Đoàn 2 Pháo yểm trợ. Căn cứ hỏa lực chính được Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên” bảo vệ, đồng thời làm thành phần trừ bị. Phía Nam, Lữ Đoàn A, hai tiểu đoàn 3, 8, có nhiệm vụ phá thế trận cộng sản bao vây, chia cắt. Nhưng tất cả phối trí chiến thuật nầy đã trở nên bất khả dụng, bởi phe cộng sản đã chuẩn bị đủ cho chiến trường, từ quốc tế đến quốc nội, với biểu ngữ của đám biểu tình phản chiến ở Mỹ đến Dinh Độc Lập ở Sài Gòn.
Withdrawn
Cụ thể nơi mặt trận Hạ Lào, quân cộng sản đã bắn không trật một viên đạn ra ngoài các căn cứ hỏa lực. Và sau khi các căn cứ nhảy dù ở mặt Bắc bị tràn ngập; Sư Đoàn I Bộ Binh phải rút bỏ sau cái gọi là “chiến thắng chiếm đóng Tchépone”; vùng trách nhiệm của TQLC gánh khối nặng còn lại của trận chiến vô lý bi thảm nầỵ. Lữ đoàn A TQLC với Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên” của Tiểu Đoàn Trưởng, “Robert Lửa” Nguyễn Xuân Phúc trở nên thành tụ điểm tất cả nguồn lửa lớn của chiến trường.
Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc nói với Đạt, chỉ huy trưởng pháo binh, đơn vị pháo còn lại duy nhất của trận địa: “Ông khỏi yểm trợ cho ai nữa, hạ nòng súng xuống, “cua” nó lên con nào, ông nướng con ấy cho tôi”.
“Cua”, Phúc dùng chữ với ý khinh miệt hơn nghĩa khối hài để nói về những chiến xa của Bắc quân. Và đến lúc cuối cùng, Phúc hét lớn qua máy truyền tin: ”Khỏi cần hỏi lệnh tôi, còn bao nhiêu đạn ông cứ chơi hết bấy nhiêu…” Hai Tiểu Đoàn 4 và 7 ở vùng ngoài căn cứ vùng vẫy tuyệt vọng giữa đám kẻ thù say máu như con hổ trọng thương bị loài kên-kên rúc rỉa. Phúc hướng dẫn từng phi tuần từ hạm đội bay vào cứu bạn. Những viên phi công Mỹ dần quen với giọng nói của “Foxtro” (ám danh đàm thoại không-lục của Phúc với phi công Hạm Đội 7), để đến một đêm… Đêm hỏa ngục lật ngược để bày ra trên trần gian nguồn lửa lênh láng hung tàn không hề cạn. Lửa rùng rùng lay động suốt dãy núi rừng ầm vang tiếng nổ. Tiếng nổ của đại pháo, hỏa tiễn bắn từng đợt, từng tràng một lần mười, hai mươi trái, từ bốn, năm vị trí. Trong chuỗi âm động quái dị ấy, súng tay dì đẹt nhỏ nhoi như một loại pháo lép và cuối cùng với những đợt bom. Bom ném một lượt từ ba phi tuần phản lực nối cánh nhau như cảnh tượng trong các phim chiến tranh. Phi cơ Mỹ bao vùng suốt từ sáng sớm, Đà Nẵng, Thái Lan, Hạm Đội 7, Guam qua chiều vào đêm, bay đến…
Đêm đến, Bắc quân từ hang ổ, đường thông thủy, giao thông hào, điạ đạo theo xe tăng tấn công lên đồi tiêu diệt Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A, Tiểu Đoàn 2 Pháo qua hàng rào phòng thủ của “Trâu Điên”. Và Tiểu Đoàn 2 TQLC quả thật là một con trâu điên đơn độc đương cự giữa bầy sài lang nanh vuốt. Phúc đã theo dõi và thấm hiểu nổi đau những lần thất thủ của các đơn vị bạn, những Tiểu Đoàn 37 Biệt Động, Tiểu Đoàn 2, 3, Lữ Đoàn III Dù… Hai tiểu đoàn 4, 7/TQLC ngoài căn cứ chỉ còn một đường liên lạc qua hệ thống truyền tin của Tiểu Đoàn 2. Phúc hướng dẫn phi cơ Mỹ thả trái sáng để hai đơn vị nầy lần đường về phía Nam, nơi các tiểu đoàn 3 và 8 đang đợi “bắt tay”. Bộ chỉ huy lữ đoàn hoàn toàn tê liệt, pháo binh cũng chỉ còn những viên đạn cuối cùng, Đạt báo cáo với Phúc… “Tuị nó tràn ngập vị trí, tôi phá súng!!”
Và cuộc hỗn chiến trong đêm bắt đầu. Tiếng súng lớn đồng im bặt, tiếng súng nhỏ cũng không còn, chỉ âm động của da thịt người bị xé rách, đâm nát, vỡ nhầy dưới xích xe tăng. Trong bóng tối chập chờn tàn lửa, nghi ngút khói của những trận pháo càn từ bao ngày qua, từ giờ trước…Những bóng người nhào vào nhau, tìm đường chạy hoặc cách giết người hiệu quả để được lần sống sót. Phúc hằng tiên liệu rõ tình huống tuyệt vọng gớm ghê nầy, nên anh đã ra lệnh cho toàn đơn vị “tay áo phải xắn cao, tay áo trái thả dài xuống”, làm dấu hiệu nhận bạn giữa đêm tối, vượt nỗi chết. Và từ vũng sâu cảnh điạ ngục trần gian kia, người ta nghe rõ tiếng hét lớn lập lại nhiều lần… “I’m crazy buffalo battalion commander, đ..m.. .tao ground chief… go ahead, do it please…”
Bầu trời, mặt đất cùng bị vỡ tung, những quả bom chạm nổ ngay khi vừa rời khỏi cánh tàu bay. Phúc nương theo đợt dội bom, hứng đủ trận bom, bảo vệ bộ chỉ huy lữ đoàn, tiểu đoàn 2 pháo và đơn vị rút khỏi căn cứ. Trong bản ghi dữ kiện của máy bay, toạ độ Phúc yêu cầu dợi bom cũng là toạ độ của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A TQLC mà Hạm Đội 7 đã yểm trợ từ bao ngày qua.
Bốn giờ sáng, Phán, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ8 TQLC từ trên đỉnh ngọn Cô-rốc, đỉnh núi cao nhất vùng, nhìn suốt hai bên sường Đông, Tây Trường Sơn, lắng nghe tiếng nói khẽ, đứt khúc của Phúc… “mầy… mầy thắp đèn cầy (trái sáng), tao dẫn tụi thằng 4, 7 và con cái tao về…”.
LS02
Tại cứ điểm 31, binh sĩ QĐNDVN đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù QLVNCH
Chín giờ sáng hôm sau, Phán xuống núi, Phúc đang dìu Đại Tá Thông bước chập choạng. Giữa đám quân tan tác, Phúc là người nhỏ, thấp, gầy nhất. Nhưng quả tình anh là người cao, bền hơn hẳn. Như Người Lính không hề chết. Và nếu họ có mất đi hình hài cũng chỉ để Tổ Quốc hằng muôn thuở tồn sinh.
Tổng kết trận Hạ Lào, Trung Tá Pháo Binh Nhảy Dù Bùi Đức Lạc nhận xét: “Máu của Người Lính đã đổ xuống Hạ Lào, thịt xương họ không vun trồng màu mỡ quê mẹ mà làm tươi tốt cho đồng, rừng xứ người. Nhưng đau thấm thía, lâu dài hơn khi trận Hạ Lào bị cơ quan truyền thông ngoại quốc che mờ bằng màn khói bại trận, lại được tô son chuốc lục bởi phóng viên người Việt với màu tang trắng quê hương…”
Lam Sơn 719 là cuộc hành quân thiệt hại nặng nhất của Quân Lực VNCH trong cuộc chiến tranh VN: trên 1.500 binh sĩ chết, 6.000 bị thương. Phía Mỹ chỉ yểm trợ về không quân, vì họ không được tham chiến bằng bộ binh ngoài lãnh thổ VN (Quốc Hội Mỹ không cho phép, theo Đạo luật Cooper‐Church Amendment). Thiệt hại về phía Mỹ là 215 chết, 1.149 bị thương, và 108 máy bay trực thăng bị bắn rơi.
Lam Sơn 719 là cuộc hành quân thiệt hại nặng nhất của Quân Lực VNCH trong cuộc chiến tranh VN: trên 1.500 binh sĩ chết, 6.000 bị thương. Phía Mỹ chỉ yểm trợ về không quân, vì họ không được tham chiến bằng bộ binh ngoài lãnh thổ VN (Quốc Hội Mỹ không cho phép, theo Đạo luật Cooper‐Church Amendment). Thiệt hại về phía Mỹ là 215 chết, 1.149 bị thương, và 108 máy bay trực thăng bị bắn rơi.
Hậu Từ
Hôm nay bốn mươi-bốn năm qua (1971-2015) kể từ buổi binh đao tàn khốc kia, Thắng, Bại; Công, Tội của những bên lâm chiến đã được lịch sử chứng minh. Chỉ riêng Người Lính – Những Người Lính không trở về – Những Người Lính sống sót cùng Nỗi Đau không hề chấm dứt với khổ nạn Quê Hương. Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù Nguyễn Văn Thọ là một trong những người lính phẫn hận kia.
Sau lần sống sót dưới cơn bão dữ đạn bom của cả hai phía, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Trung Tá Trần Văn Châu, Thiếu Tá Trần Văn Đức, các Đại Úy Lê Đình Châu, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Quốc Trụ… thuộc bộ chỉ huy Lữ Đoàn 3, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh ND được lệnh di chuyển ra Bắc với chân trần, trên thân người vết thương còn tươi máu. Tại Hà Nội, họ được đưa ra trình diện báo chí (của miền Bắc và khối cộng sản) để làm cớ chứng: Quân đội Mỹ-Ngụy tấn công lãnh thổ của nước Lào (gọi là) trung lập. Đồng thời viên cán bộ chính trị cao cấp điều hành buổi họp báo cũng lên tiếng: “Cực lực bác bỏ lời tố cáo của báo chí miền Nam: “Cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam qua ngã Lào (!!)” Đài phát thanh Hà Nội lớn tiếng rêu rao: “Trận chiến Đường 9 Nam Lào là một đòn sấm sét của lực lượng nhân dân yêu chuộng hòa bình của ba nước nước Đông Dương đã đoàn kết chiến đấu, đập tan âm mưu của tập đoàn thực dân mới Mỹ nhằm mưu định chiếm đóng Đông Dương mà ngụy quyền Sài Gòn là tay sai đắc lực nhất.”
Đại tá Nguyễn Văn Thọ Lữ đoàn trưởng LĐ3 Nhảy Dù bị bắt tại Hạ Lào ngày 25-2-1971 cùng các sĩ quan Dù khác đang được đưa ra trình diện trước báo chí ở Hà Nội
Đại tá Nguyễn Văn Thọ Lữ đoàn trưởng LĐ3 Nhảy Dù bị bắt tại Hạ Lào ngày 25-2-1971 cùng các sĩ quan Dù khác đang được đưa ra trình diện trước báo chí ở Hà Nội
Lời cáo buộc được cả thế giới “tin cậy” nên từ Hội Nghị Paris (1968-1973) trở về Hà Nội, bí thư Xuân Thủy được Đức Giáo Hoàng Paul VI tiếp kiến do những nổ lực gọi là “tái lập hòa bình ở VN” của y ta đại diện cho Hà Nội tại bàn hội nghị. Chưa hết, thế giới lại “rất sáng suốt” trao giải Nobel (gọi là) Hòa Bình cho Lê Đức Thọ. Đây cũng là viên bí thư chiến dịch Hồ Chí Minh lần tiến chiếm Sàigòn (4/1975) với 16 sư đoàn bộ binh cộng sản Bắc Việt như lời than vãn của Kissinger, kẻ đồng nhận giải Nobel Hòa Bình với Thọ.
Trong chiều hướng “tin cậy đối với cộng sản Bắc Việt”, Hiệp Định Ba Lê ký kết ngày 27 Tháng 1, 1973 đã long trọng xác nhận “Hai bên miền Nam Việt Nam trao trả cho nhau những nhân viên quân sự được bắt giữ… ” Với định nghĩa nầy, toàn bộ các sư đoàn bộ binh, khối lượng vũ khí khổng lồ gồm xe chiến xa, đại pháo của cộng sản miền Bắc nơi mặt trận Hạ Lào đồng được “hóa không” để trở thành “quân đội giải phóng Lào yêu nước” hoặc của “lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam”! Và hệ quả tiếp theo là: “Không có tù binh VNCH nào của mặt trận Đường 9 Nam Lào trong danh sách trao trả theo Nghị Định Thư về Tù Binh của Hiệp Định Paris 1973.”
Văn bản được long trọng ký kết trước cộng đồng thế giới, được 13 nước ký Định Ước Bảo Đảm Thi Hành bao gồm Liên Xô, Trung Cộng! Màn dối gạt ngang ngược vô liêm sĩ đối với thế giới tiếp tục hiện thực trong Ngày 30 Tháng 4, 1975 với sự đồng thuận của chính phủ Mỹ. Cuối cùng, chỉ một năm sau, 1976, nhóm người tù miền Nam trong một buổi đi ra Đoàn (Đoàn 776) ở Yên Bái để lãnh gạo. Chúng tôi nhận ra người tù Hạ Lào: Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, Trung Tá Trần Ngọc Huế, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/2/SĐ1BB và nhiều anh em tù binh khác thuộc các binh chủng TQLC, BĐQ, BB, Thiết Kỵ, đông đảo nhất là những Biệt Kích Quân, tổng số của những tù binh VNCH rơi ra ngoài danh sách trao trả theo Hiệp Định Paris. Đại Tá Thọ giữ nhiệm vụ chăn nuôi, Trung Tá Huế dầm suối chuyển cây gỗ… Chúng tôi đứng nghiêm chào kính: Chào Đại Tá! Ông trầm giọng buồn phiền: Các em cố gắng nghe! Vâng, tụi em cố gắng!
Năm 1996, người viết qua Úc, nói chuyện ở Sidney, gặp lại Người Lính Nhảy Dù không mệt mõi, đến góp tiếng với “thằng em”. Tôi khám phá ra một điều cao thượng bất biến: Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8; Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 ND; Tù Binh Hạ Lào; Người già tỵ nạn nơi đất Úc… Tất cả luôn ở trong một tình trạng “cố gắng”.
Nhảy Dù Cố Gắng! Đích Thân về cõi Phật bình an (*).

Thiếu Úy Phan Nhật Nam
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919
(*) Đích thân: Người Chỉ Huy – Ám danh đàm thoại của các đơn vị tác chiến nhảy dù.