Mt68 History



Trang Mậu Thân 68 thiết lập từ 18-6-06 - Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.


Tuesday, 20 February 2018


 Đoc lại lá thư của Hoàng Phủ Ngọc Tường


   LÊ CÔNG ĐỊNH 
Inline image 1Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tôi đọc đi đọc lại lá thư của Hoàng Phủ Ngọc Tường về sự kiện Mậu Thân 1968 ở Huế, và nhận ra vài điều sau đây (ngoài những điều nhiều người đã phân tích rõ):
1) Nhiều độc giả đọc nhanh nên dễ dàng nhận định và kết luận rằng lá thư đó vừa là lời sám hối của Hoàng Phủ Ngọc Tường, vừa là sự thừa nhận quân đội cộng sản Bắc Việt chính là thủ phạm của cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế.
Theo tôi hoàn toàn không phải như vậy. Hãy bình tâm đọc kỹ và lưu ý cách dùng từ của một tay viết giỏi vốn được các trường lớp tuyên truyền của cộng sản đào tạo và nhồi sọ nhiều chục năm.
2) Thật vậy, đây đơn thuần là lời xin lỗi về hành động mạo nhận thiếu trung thực trong cuộc phỏng vấn năm 1981 mà thôi, không có sự ân hận nào trong đó.
Tuy Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm thấy “thống thiết” trước cuộc tàn sát kinh hoàng đó, nhưng chỉ xem đó là sai lầm, chứ không phải tội ác. Sai lầm thì rút kinh nghiệm và cùng lắm là xin lỗi, chứ không ân hận hay sám hối như cảm xúc của thủ phạm khi nhận ra mình đã phạm tội ác tày trời.
3) Những “tang tóc thê thảm” mà nhiều gia đình Huế gánh chịu, theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, là do hành động giết oan của “quân nổi dậy”, chứ không phải của bộ đội cộng sản Bắc Việt. Độc giả cần lưu ý điểm này.
Chúng ta đều biết, phía cộng sản vẫn gọi chiến dịch Mậu Thân 1968 là trận “tổng tiến công và nổi dậy”, tức là bộ đội chính quy Bắc Việt tiến công, còn người dân địa phương nổi dậy. Đó cũng chính là “học thuyết” quân sự của Lê Duẩn trong chiến tranh Việt Nam.
Vậy, tuy thừa nhận có cuộc thảm sát, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khéo léo đổ lỗi đó cho người dân địa phương ở Huế qua cách dùng chữ “quân nổi dậy”. Nói cách khác, người Huế giết người Huế, chứ không hề có bàn tay của quân đội cộng sản Bắc Việt ở đây.
4) Đoạn nói rằng sai lầm của quân nổi dậy là không thể chấp nhận từ góc độ lương tâm dân tộc lẫn quan điểm “chiến tranh cách mạng”, cho thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn biện minh và bảo vệ đến cùng sự vô can của quân đội cộng sản trong cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế, bởi họ không chủ trương như vậy trong cái gọi là “chiến tranh cách mạng”.
5) Tận phút cuối cùng vẫn tiếp tục che đậy tội ác của mình và đồng bọn đối với đồng bào Huế bằng một lá thư được viết với ngôn từ khôn khéo thượng thừa, khiến nhiều người lầm tưởng, cho thấy bản chất của những tay đồ tể cộng sản là không bao giờ thay đổi.
Do vậy, đừng trông mong vào sự thừa nhận và hối lỗi về cuộc thảm sát Mậu Thân từ nhà cầm quyền này trong tương lai. Hãy nhìn cách họ tổ chức ăn mừng nhân dịp 50 năm sự kiện bi thương ấy để biết lòng dạ họ thế nào. Nếu chế độ này còn kéo dài, tôi tin chắc rằng họ sẽ tiếp tục nhảy múa như những kẻ vô can
Theo FB Lê Công Định

Thư Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa công bố:
“Tôi đọc cho con gái chép một bài viết nhỏ này xin gửi tới bà con bạn bè thương mến, những ai yêu mến, quen biết và quan tâm đến tôi. Còn những kẻ luôn đem tôi ra làm mồi nhậu cho dã tâm của họ như ông Liên Thành và bè đảng của ông ta, tôi không muốn mất thời giờ đối đáp với họ. Dĩ nhiên bài viết này không dành cho họ.
Năm nay tôi 81 tuổi, và tôi biết, còn chẳng mấy hồi nữa phải về trời. Những gì tôi đã viết, đã nói, đã làm rồi trời đất sẽ chứng nhận. Dầu có nói thêm bao nhiêu cũng không đủ. Tốt nhất là im lặng bằng tâm về cõi Phật. Duy nhất có một điều nếu không nói ra tôi sẽ không yên tâm nhắm mắt. Ấy là câu chuyện Mậu thân 1968.
Vậy xin thưa:
  1. Mậu Thân 1968 tôi không về Huế. Tôi, ts Lê Văn Hảo và bà Tùng Chi (những người lên chiến khu trước) được giao nhiệm vụ ở lại trạm chỉ huy tiền phương- địa đạo Khe Trái (Thuộc huyện Hương Trà- tỉnh Thừa Thiên)- để đón các vị trong Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế như Hoà thượng Thích Đôn Hậu, cụ Nguyễn Đoá, ông Tôn Thất Dương Tiềm… lên chiến khu.
Mồng 4 tết tôi được ông Lê Minh (Bí thư Trị- Thiên) báo chuẩn bị sẵn sàng về Huế. Nhưng sau đó ông Lê Minh báo là “tình hình phức tạp” không về được. Chuyện là thế. Tôi đã trả lời ở RFI, Hợp Lưu, Báo Tiền Phong chủ nhật… khá đầy đủ. Xin không nói thêm gì nữa.
  1. Sai lầm của tôi là nhận lời ông Burchett và đoàn làm phim “Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình” trả lời phỏng vấn với tư cách một nhân chứng Mậu thân Huế 1968, trong khi tôi là kẻ ngoài cuộc.
Tôi xác nhận đây là link clip tung lên mạng là bản gốc cuộc phỏng vấn:
https://youtu.be/MaNr16RDrzQ
Để chứng tỏ mình là người trong cuộc, tôi đã dùng ngôi thứ nhất- “tôi”, “chúng tôi” khi kể một vài chuyện ở Huế mậu thân 68. Đó là những chuyện anh em tham gia chiến dịch kể lại cho tôi, tôi đã vơ vào làm như là chuyện do tôi chứng kiến.
Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu… Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra…”. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi.
Cũng trong cuộc trả lời phỏng vấn này, khi nói về thảm sát Huế tôi đã hăng hái bảo vệ cách mạng, đổ tội cho Mỹ. Đó là năm 1981, khi còn hăng say cách mạng, tôi đã nghĩ đúng như vậy. Chỉ vài năm sau tôi đã nhận ra sai lầm của mình. Đó là sự nguỵ biện. Không thể lấy tội ác của Mỹ để che đậy những sai lầm đã xảy ra ở Mậu thân 1968.
Tôi đã nói rồi, nay xin nhắc lại:
Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.
  1. Từ hai sai lầm nói trên tôi đã tự rước hoạ cho mình, tự tôi đã đánh mất niềm tin yêu của nhiều người dân Huế đối với tôi, tạo điều kiện cho nhiều kẻ chống cộng cực đoan vu khống và qui kết tôi như một tội phạm chiến tranh.
Tôi xin thành thật nhìn nhận về hai sai lầm nói trên, xin ngàn lần xin lỗi.
Sài Gòn, ngày 1 tháng 2 năm 2018
Hoàng Phủ Ngọc Tường
XIN BẤM VÀO LINK SAU ĐỂ NGHE VC TỐ CÁO VC THIỆT HAY GIẢ BỘ:

https://youtu.be/-VoniQjAamI

Monday, 19 February 2018

NĂM LỘT CHỈ LÀ 1 TÊN HỀ GIỚI THIỆU LỜI CA TIẾNG HÁT - HẮN ĐƯỢC VỊT TANH TRÚC HỒ TÂNG BỐC THÀNH LÃNH TỤ NHƯ THIỆT- HẮN LÀ CÁI THÁ GÌ? TƯ CÁCH CÁI ĐÉO GÌ? MÀ DÁM NÓI " THĂM VIẾNG ĐỒNG BÀO ÚC CHÂU"- LỘNG NGÔN THUỘC LỌAI TNT KHÔNG BẰNG./-TCL

MC Nam Lộc muốn nhắn nhủ gì tới đồng bào hải ngoại?
Click image for larger version

Name: mcnamloc (1).jpg
Views: 0
Size: 55.1 KB
ID: 1177883   Click image for larger version

Name: xgxhdf.jpg
Views: 0
Size: 75.2 KB
ID: 1177885  

Nhân dịp tới thăm đồng bào Úc Châu, MC Nam Lộc chúc tết và nhắn nhủ tới mọi người.

Trước thềm năm mới, tôi xin thân ái gởi lời cầu chúc tốt đẹp nhất đến quý anh chị và các bạn, một năm mới an khang, thịnh vượng, gia đình hạnh phúc và sức khỏe dồi dào.

Thấm thoắt mà đã 43 mùa Xuân qua kể từ ngày những người Việt đầu tiên phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi. Những "em bé" sinh ra tại hải ngoại hay ở trong nước sau biến cố tang thương 1975, nay cũng đã trưởng thành, đủ chững chạc để biết và hiểu vì đâu và vì ai mà xẩy ra cuộc thảm sát Mậu Thân đúng 50 năm về trước. Và lại càng đủ trí tuệ để nhận định lý do tại sao mà miền Nam VN bị đảng Cộng Sản Hà Nội cưỡng chiếm, để rồi hơn 90 triệu người Việt đang phải sống trong lo âu và tự hỏi “VN còn hay đã mất”?

Nhưng qua hình ảnh, cộng với những chia sẻ gần đây của nhạc sĩ Việt Khang cùng các nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, thì rõ ràng tại VN, thế hệ trẻ đã không thờ ơ trước những vấn nạn của đất nước hiện nay. Rất nhiều người đã đứng lên dóng tiếng nói can trường, bất chấp phải chịu cảnh tù đầy để tố cáo những bất công trong xã hội, cùng kêu gọi và báo động cho toàn thể người Việt ở khắp nơi trên thế giới, viễn ảnh diệt vong của dân tộc VN, do tập đoàn của đảng Cộng Sản đang thống trị và cầm quyền trên quê hương yêu dấu của chúng ta.


May mắn thay, thế hệ trẻ ở hải ngoại cũng không lãng quên. Rất nhiều cá nhân, đoàn thể cùng các tổ chức đấu tranh, vận động và đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho VN, cũng đã trổi lên một cách mạnh mẽ. Nhiều phong trào của các bạn trẻ ở hải ngoại, dù hoạt động công khai hay âm thầm, cũng đã, đang và sẽ cố gắng tiếp tay với những người trẻ yêu nước ở VN hiện nay, bất kể những người đó đang bị cầm tù, đang lẩn trốn, hay tạm dung tại một xứ sở khác ngòai VN. Hơn lúc nào hết họ đang cần sự hướng dẫn cũng như lời khuyên bảo một cách chân thành và xây dựng từ những người đi trước. Họ cần lãnh hội và học hỏi kinh nghiệm của thế hệ cha ông. Mọi sự công kích, chỉ trích hay lời miệt thị sẽ không mang lại bất cứ một kết quả nào mà chỉ tạo thêm hố chia cách giữa hai thế hệ mà thôi. Tinh thần đoàn kết của hội nghị Diên Hồng có lẽ là câu trả lời thích đáng nhất cho hoàn cảnh hiện nay của dân tộc VN.

Mùa Xuân mới với những hy vọng mới, đang đến với chúng ta. Hãy cùng nắm tay nhau để mang những đổi thay mới mẻ và tốt đẹp cho quê hương yêu dấu. Chúng tôi rất mong được tháp tùng và sát cánh với tất cả quý anh chị và các bạn của Phong Trào trong tiến trình đấu tranh cho một VN trên con đường nhân bản, độc lập và tự do.

Một lần nữa xin CUNG CHÚC TÂN XUÂN!

Nam Lộc

Advertisement
Tình báo KGB tiết lộ VC tiến hành thảm sát Huế 1968 như thế nào
 
Từ quan điểm Liên Xô, chủ trương “tận diệt kẻ thù” trong thảm sát Mậu Thân đã được Yuri Alexandrovich Bezmenov, cựu nhân viên KGB đào thoát sang phía tư do năm 1970, giải thích:

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172198&stc=1&d=1517940688
“Tương tự, trong một quận nhỏ Huế tại Nam Việt Nam, nhiều ngàn người đã bị xử tử trong một đêm khi thành phố bị Việt Cộng chiếm chỉ trong hai ngày; CIA Mỹ không thể nào trả lời được câu hỏi, làm thế nào CS có khả năng biết từng cá nhân người bị xử tử, ông ta sống ở đâu, đến nơi nào để bắt ông và để bắt chỉ trong bốn giờ trước bình minh, bỏ ông ta lên xe, lái ra khỏi thành phố và bắn. Câu trả lời rất đơn giản. Thật lâu trước khi chiếm thành phố đã có một mạng lưới rộng lớn của những CS nằm vùng; họ là dân địa phương và là những người biết một cách tuyệt đối những ai trong thành phố có ảnh hưởng với dư luận quần chúng, kể cả những anh thợ hớt tóc và tài xế taxi. Những ai có cảm tình với Mỹ đều bị xử bắn…”

Những hành động dã man nhắm vào dân lành tại Huế , làm nhớ tới Liên Xô tàn sát hàng ngàn hàng binh Ba Lan phần lớn là sĩ quan vào tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía tây thành phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tàng trong máu óc của cộng sản, dù chúng là ai chăng nửa, tất cả đều giống nhau vì cùng chung một tổ.

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172197&stc=1&d=1517940688
Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế là thành phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vì bị VC chiếm đóng lâu dài nhất. Riêng người Huế sỡ dĩ bị tàn sát dã man, theo một số nhân chứng , do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vùng địa phương vì thù oán nhau mà trả thù, rồi lại được tự do đi lại trong thành phố nên tự do hành động, nhất là trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nhà,lôi từng người ra bắn giết theo ý muốn, đúng với kỹ thuật bắt và thủ tiêu kiểu KGB.

Cho đến nay không ai biết chính xác số người bị VC tàn sát tại Huế là bao nhiêu nhưng căn cứ vào thống kê số hài cốt tìm được trong một số hầm chôn tập thể sau khi giặc bị đánh đuổi khỏi thành phố, tại các địa điểm Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bải Dâu,Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Ðức,Ðồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Ðông Ba, Trường An Ninh Hạ,Trường Vân Chí, Chợ Thông,Chùa Từ Quang,Lăng Gia Long, Ðồng Di, Vịnh Thái, Phù Lương , Phú Xuân, Thượng Hòa,Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Ðá Mài.. tổng cộng hàng ngàn người chết.

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172196&stc=1&d=1517940688
Để giết chết nhiều ngàn người bằng những phương pháp dã man và chỉ trong một thời gian ngắn không phải là hành động tự phát, tư thù, ngẫu nhiên mà là một chính sách “tận diệt kẻ thù” đã được quyết định từ trung ương đảng CSVN.

Như đã được bạch hóa, danh sách sĩ quan Ba Lan bị giết tại rừng Katyn đã được chính Stalin phê chuẩn. Danh sách nạn nhân Huế cũng đã được trung ương đảng CSVN chấp thuận. Điểm khác nhau duy nhất, CS Liên Xô giết người Ba Lan còn CSVN giết người Việt Nam.

Dưới chế độ CS không có chuyện cá nhân. Tất cả, từ tổ ba người đến toàn đảng đều thống nhất theo một chủ trương. Nếu có giết lầm thì việc giết lầm đó cũng nằm trong chủ trương “giết lầm còn hơn bỏ sót” của đảng.

Để chiến thắng bằng mọi giá và mọi cách, đảng CS cần một mạng lưới nằm vùng trung thành, dã man, cuồng tín và hữu hiệu. Thành phần này cần thiết để trực tiếp thi hành các chính sách của đảng CS tại địa phương.

Danh sách dài của những người bị giết tại Huế đã được CS cấp trên chấp thuận và giao cho các cấp địa phương để thi hành bản án xử tử. Danh sách đó dĩ nhiên do CS nằm vùng tại Huế cung cấp và chính những CS nằm vùng này là những người thực hiện việc giết người.

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172195&stc=1&d=1517940688
Ngày 13/9/1939, Hồng quân Liên Xô (LX) xâm lăng Ba Lan và chiếm đóng một phần lãnh thổ nước này và bắt tay vào việc “lập lại trật tự”. Điều này đồng nghĩa với việc thiết lập hàng loạt hệ thống các trại mang danh “trại lao động”, “trại tù”, “Gulag”, hay “trại tập trung”, trong thực tế là những trại tử thần do Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô (NKVD) tiền thân của KGB (Cục An ninh Quốc gia) quản lý. Hàng ngàn thành viên giới trí thức Ba Lan cũng bị bắt giam vì bị cho là “nhân viên tình báo, sen đầm, địa chủ, những kẻ phá hoại, chủ nhà máy, luật sư và tu sĩ”. Tổng cộng, có chừng 15 ngàn người – trong số đó có hai sĩ quan mang quân hàm tướng. Ngày 5-3-1940, theo đề nghị của Beria, Chính ủy của NKVD, Stalin đã ký một sắc lệnh hành quyết 25.700 “người quốc gia và phản cách mạng”. Nạn nhân của vụ thảm sát được chôn trong các nấm mồ tập thể tại Katyn (gần Smolensk), Mednoye (gần Tvar) và các khu rừng ở Pyatykhatky (ngoại ô Kharkov). Vụ thảm sát và việc xóa bỏ dấu vết các nạn nhân đã được thực hiện một cách tuyệt mật.

Đến năm 1941, Wehrmacht (quân đội Đức) đẩy lui Hồng quân và hơn một năm sau người Đức đã tìm ra những hố chôn tập thể rải rác trên 3 địa điểm nói trên. Trước lời tố cáo của Đức, Liên Xô phủ nhận hoàn toàn trách nhiệm và quy ngược lại trách nhiệm về phía phát xít Đức. Cần nói thêm ở đây là vì nhu cầu đồng minh với Liên Xô để chống phát xít, Anh và Mỹ đã cố ý cho “chìm xuồng” vụ này trong suốt thế chiến và cả nửa thế kỷ sau đó. Phải đợi đến khi chế độ cộng sản sụp đổ vào thập niên 90 thì tất cả mới được đưa ra ánh sáng với sự hợp tác của ba đời Tổng thống Nga là Yeltsin, Putin và Medvedev. Tháng 11/2010, viện Duma (hạ viện Nga) đã thông qua một nghị quyết tuyên bố rằng tội ác Katyn được tiến hành theo các chỉ thị của Stalin và các quan chức Liên Xô khác.

Việc Nikita Khrushchev (1894-1971) bị đảo chánh ở Liên Xô ngày 15-10-1964 là một biến cố rất thuận lợi cho VV. Khrushchev chủ trương hòa dịu với các nước Tây phương và sống chung hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Chính phủ Liên Xô dưới thời Khrushchev, vào đầu năm 1957, đã đưa ra đề nghị hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt, nhưng bị nhà cầm quyền VC quyết liệt phản đối.

Trong khi đó, VC quyết dùng võ lực để xâm chiếm VNCH. Khi biến cố Maddox xảy ra trong vịnh Bắc Việt vào tháng 8-1964, Hoa Kỳ leo thang chiến tranh, oanh tạc Bắc Việt. Ban lãnh đạo mới của Liên Xô gồm tam đầu chế Leonid Brezhnev (1906-1982), Alexei Kosygin (1904-1980) và Nicolay Podgorny (1903-1983) muốn lôi kéo Bắc Việt về phía mình trong cuộc tranh chấp giữa Liên Xô và Trung Hoa, liền tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ Bắc Việt trong trường hợp Bắc Việt bị Hoa Kỳ tấn công. Tháng 2-1965, thủ tướng Liên Xô Kosygin viếng thăm Hà Nội.

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172194&stc=1&d=1517940688
Để đáp lễ và tiếp tục cuộc thương thảo, tháng 4-1965, Lê Duẩn (1907-1986), bí thư thứ nhất đảng Lao Động Việt Nam (LĐVN) cầm đầu phái đoàn sang Moscow. Trong dịp nầy, một thỏa ước viện trợ đã được ký kết; đồng thời Liên Xô đồng ý cho một tổ chức do đảng LĐVN lập ra để điều khiển chiến tranh ở miền Nam là MTDTGP MNVN đặt văn phòng liên lạc tại Mạc Tư Khoa.

Tuy chưa chính thức thừa nhận về mặt ngoại giao theo công pháp quốc tế, nhưng việc Liên Xô chấp thuận cho MTDTGPMNVN đặt văn phòng liên lạc tại Mạc Tư Khoa, có nghĩa là Liên Xô xác nhận sự hiện diện của mặt trận nầy tại miền Nam Việt Nam, khởi đầu cho việc tăng cường viện trợ quân sự cho Bắc Việt cũng như MTDTGPMNVN theo chủ trương can thiệp mới của Liên Xô, mà sau nầy các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev.

Từ đó, vũ khí Liên Xô được đưa vào chiến trường miền Nam để trang bị cho lực lượng cộng sản. Nhiều quan sát viên ghi nhận rằng các loại vũ khí nầy tối tân hơn các loại vũ khí còn sót lại sau thế chiến thứ hai (1939-1945), mà Hoa Kỳ trang bị cho quân lực VNCH cho đến năm 1968.

Tại Bắc Việt, giữa năm 1967, đảng LĐ ra tay lần chót, lần lượt bắt giam tất cả những thành phần theo chủ trương hòa dịu giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau của Khrushchev, tức những thành phần không đồng ý với cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam. Lãnh đạo đảng LĐ lúc đó gán cho họ tội danh là thành phần “xét lại”, âm mưu “chống đảng”. Đó là các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, và khoảng 40 nhân vật khác, trong đó có cả trí thức, văn nghệ sĩ.

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172193&stc=1&d=1517940688
Nhân dịp lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười Liên Xô, Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng LĐ, cùng hai uỷ viên Bộ chính trị là Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Quốc phòng và Nguyễn Duy Trinh, bộ trưởng Ngoại giao lên đường vào cuối tháng 10-1967 qua Mạc Tư Khoa dự lễ. Trên đường đi, phái đoàn nầy đã ghé qua Bắc Kinh xin quân viện, trình bày kế hoạch mới theo quyết định của Bộ chính trị VC vào tháng 7, đã được Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) hứa gởi qua Bắc Việt 300,000 lính phòng không và công binh, cung cấp hoả tiễn 107 ly, 240 ly, quân dụng, lương khô, thuốc men. Tại Mạc Tư Khoa, Liên Xô chấp thuận cho Bắc Việt thêm đại bác 130 ly, chiến xa T54, phản lực cơ Mig 21 và các loại vũ khí nặng khác. Cũng trong dịp nầy, để chứng tỏ một lần nữa tình thân thiện Xô Việt, những nhà lãnh đạo Xô Viết quyết định tặng Hồ Chí Minh huân chương Lenin.

Trên toàn lãnh thổ VNCH, trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, chỉ trừ vụ tấn công Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn để gây tiếng vang trên thế giới, du kích CS hầu như tránh tấn công các căn cứ quân sự Hoa Kỳ trên toàn quốc, mà chỉ nhắm vào các thành phố và các căn cứ quân sự VNCH.

Trước Tết Mậu Thân, chỉ huy đặc khu Trị-Thiên-Huế (tức Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế) của VC là thiếu tướng Trần Văn Quang. Trần Văn Quang cử Lê Minh, bí thư tỉnh ủy đảng Lao Động (CS) tỉnh Thừa Thiên-Huế, phụ trách mặt trận Trị-Thiên. Minh chia mặt trận Trị-Thiên thành 3 khu vực: mặt trận Quảng Trị giao cho Hồ Tú Nam phụ trách; mặt trận Phú Lộc (phía nam Thừa Thiên) giao cho một cán bộ tên Chi chỉ huy; còn mặt trận Huế, quan trọng nhất, do Lê Minh đích thân đảm nhận. Minh lại chia Huế thành hai điểm để tấn công: phía bắc Huế (tả ngạn sông Hương), và phía nam Huế (hữu ngạn sông Hương)

Cánh quân phía bắc Huế do một người tên Thu chỉ huy, Trần Anh Liên làm chính ủy. Lực lượng gồm có trung đoàn 6 (gọi là E-6, gồm có 3 tiểu đoàn), thêm 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội pháo và du kích hai quận Hương Trà và Hương Điền. Cánh quân nầy xuất phát đúng vào tối Giao thừa (29-1-1968) từ rừng núi tây Huế, chia làm 4 mũi đánh vào cửa Chính Tây (nằm về tay trái hoàng thành từ Kỳ đài nhìn vào), cửa An Hòa (cửa Tây Bắc), Kỳ đài (cột cờ trước Ngọ môn), sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Cộng quân làm chủ ngay được cửa Chính Tây, cửa An Hòa và Kỳ đài, nhưng thất bại ở sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Đồn Mang Cá lúc đó là nơi đặt bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 BB do chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng đứng đầu. Chính đồn Mang Cá là điểm tựa vững vàng để quân đội VNCH cũng như Đồng minh tổ chức phản công.

Qua cửa Chính Tây, VC tiến chiếm Đại nội. VC dùng bờ thành Đại nội để bảo vệ Kỳ đài, nơi đó, ngày 31-1 (mồng 2 Tết), VC treo một lá cờ lớn của MTDTGP MNVN. Từ Kỳ đài, VC tiến quân theo mé bờ tả ngạn sông Hương (tức bờ phía bắc), chiếm đồn Cảnh sát chợ Đông Ba, bắt tay với một cánh cộng quân khác cũng của E-6, làm chủ hoàn toàn khu vực Đông Ba, Gia Hội. Cánh quân phía nam Huế do Thân Trọng Một chỉ huy, Nguyễn Vạn làm chính ủy. Lực lượng gồm có trung đoàn E-9 của sư đoàn 309, trung đoàn 5 (4 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn pháo, và 4 đội đặc công.

Cánh quân nầy dự định xuất phát tối Giao thừa (29-1), nhưng vừa xuất phát thì bị phi cơ thám thính Mỹ phát hiện và bị pháo kích, phải lẩn tránh nên tiến chậm. Sáng mồng 1 Tết (30-1) cánh quân nầy mới tiếp tục tiến về phía thị xã Huế.

Sau 4 ngày giao tranh, cộng quân chiếm gần hết vùng hữu ngạn thành phố Huế cho đến lao xá Thừa Phủ (gần sát tỉnh đường Thừa Thiên). Cộng sản thả khoảng 2,000 tù nhân đang bị giam trong lao xá. Những người nầy liền được CS võ trang để tiếp tay cho họ. Quân đội VNCH chỉ còn giữ đài Phát thanh, Tiểu khu Thừa Thiên, Bản doanh MACV (Military Assistance Command, Viet nam) đặt ở khách sạn Thuận Hóa, và bến tàu Hải Quân.

Về phương diện chính trị, ngay sau khi chiếm vùng tả ngạn (phiá bắc Huế, vùng chợ Đông Ba, Thành nội…), ngày mồng 2 Tết (31-1) cộng sản tiến hành tổ chức cầm quyền. ủy Ban Nhân Dân (danh xưng của cộng sản) trong Thành nội gồm hai quận, do Nguyễn Hữu Vấn (giáo sư âm nhạc) làm chủ tịch quận 1, và Nguyễn Thiết (sinh viên Đại học Luật khoa) làm chủ tịch quận 2. Phía hữu ngạn, cộng sản không thành lập kịp các ủy ban nhân dân, chỉ chú tâm vào việc lùng bắt và kiểm soát tù hàng binh.

Ngày mồng 3 Tết (1-2-1968), đài phát thanh Hà Nội loan báo thành lập tổ chức Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, DC & HB tại Huế do Lê Văn Hảo, giáo sư Đại học Văn khoa Huế, làm chủ tịch, và Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư ký. Đài phát thanh HN cũng thông báo ngày 14-2, Lê Văn Hảo được đưa lên làm chủ tịch chính quyền cách mạng Huế, với hai phó chủ tịch là bà Đào Thị Xuân Yến (còn gọi là bà Tuần Chi), và Hoàng Phương Thảo (Thường vụ Thành ủy cộng sản. Nguyễn Đắc Xuân, khi còn là sinh viên sống tại Huế, đã từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” vào năm 1966 để chống chế độ “Thiệu Kỳ”, rồi bỏ trốn theo CS, nay trở lại Huế, phụ trách đội “Công tác Thanh niên”. Xuân được cộng sản giao nhiệm vụ tổ chức “đoàn Nghĩa binh”, gồm những quân nhân Cộng Hòa bị kẹt trong vùng cộng sản tạm chiếm, gọi là “Quân nhân Sư đoàn I ly khai”. Ngày 4-2-1968 (mồng 6 Tết), đoàn nầy ra thông cáo đả kích chế độ “Thiệu Kỳ”, nhưng sau đó đoàn bị cộng sản phân tán ngay, vì sợ các quân nhân trong đoàn nầy quay lại chống cộng sản. Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức đội “Nghĩa binh Cảnh Sát”, giữ nhiệm vụ ngăn chận không cho dân di tản khi quân đội VNCH và Đồng minh phản công..

Những đơn vị an ninh của cộng sản hoạt động mạnh sau khi cộng quân tạm chiếm Huế. Những đơn vị nầy do một người tên Lê (Tư) điều khiển chung, còn Tống Hoàng Nguyên phụ trách tả ngạn, và Nguyễn Đình Bảy (Bảy Khiêm) lo phía hữu ngạn. Những đơn vị nầy truy lùng và bắt giết tất cả những nhân viên chính quyền VNCH và nhân viên làm việc tại các cơ quan Hoa Kỳ, hoặc những người cộng tác với Cơ quan tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA: Central Intelligence Agency). Chính những đơn vị an ninh nầy là tác giả của những cái chết thê thảm tại Huế.

......Tình hình càng lúc càng bất lợi cho cộng sản. Lê Minh, bí thư Thừa Thiên Huế, giữ trách nhiệm trực tiếp mặt trận Huế, tỏ ý muốn rút lui trong cuộc họp ngày 19-2, nhưng còn phải chờ lệnh trên. Quân đội VNCH và Đồng minh Hoa Kỳ đẩy dần quân cộng sản ra khỏi Thành nội. Sáng sớm 23-2, lá cờ VNCH tung bay trên kỳ đài thay thế cờ của MTDTGP MNVN. Quân đội VNCH và Đồng minh có thể nói đã làm chủ được tình hình Thành nội từ đây.

Phía cộng sản, “về sau có lệnh: chuẩn bị rút lui lên vùng rừng núi phía Tây, cố bảo toàn lực lượng, mang theo đủ vũ khí chưa sử dụng đến. Khi lệnh rút lui ban bố vào đêm 25 tháng 2, một không khí có phần hoảng loạn diễn ra…”.

Người trong cuộc là ông Lê Minh, bí thư Thừa Thiên-Huế, phụ trách mặt trận Huế trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, đã thú nhận rằng việc tàn sát tù binh và thường dân ở Huế là có thật. Ông ta tuyên bố chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát nầy, nhưng lại chống chế rằng cộng quân “đã ở trong một hoàn cảnh quá khó khăn, đến không thể nào kiểm soát nổi những hành động thô bạo”. Lời thú nhận của ông Lê Minh được đưa ra năm 1988, trong thời gian đảng CSVN bắt đầu cởi mở, đã được đăng trên tạp chí Sông Hương và được dịch đăng trên báo Newsweek ở Hoa Kỳ. Sau đó những biến động ở Đông Âu dồn dập xảy ra và Liên Xô sụp đổ năm 1991, đã làm cho phái bảo thủ trong đảng CSVN cứng rắn trở lại. Hồ sơ Mậu Thân bị khép kín lần nữa. Quyển hồi ký của Lê Minh liền bị thu hồi và bản thân đương sự bị thất sủng, cô lập. 

Sau sự kiện 1975, một cuộc thảm sát tương tự như ở Huế 1968, nhưng lần này VC lạm sát trên toàn lãnh thổ nước Nam, và hàng triệu con dân nước Việt đã nằm xuống dưới lưỡi đao phủ của VC.

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172192&stc=1&d=1517940688
Chối tội, thậm chí vu oan giáo họa là nghế của Cộng Sản. Sau khi Hồng quân Liên Xô tiến vào vùng Smolensk và đẩy lùi quân đội Đức, Liên Xô thành lập một Ủy ban đặc biệt điều tra tội ác của quân đội phát-xít Đức trong rừng Katyn. Tháng 1-1944, Ủy ban này công bố một loạt "chứng cứ" chứng minh vụ thảm sát Katyn là do quân đội Đức gây ra. Năm 1945, I. Stalin quyết định tháo "nút thắt Katyn" bằng cách đưa vụ thảm sát ra Tòa án Quân sự tại Nuremberg.

Công tố viên Liên Xô, Tướng R.A. Rudenco đã buộc tội phát xít Đức thảm sát 11.000 tù binh Ba Lan tại Katyn; tuy nhiên, Tòa án Quân sự tại Nuremberg đã không đi đến một phán xét chung cuộc, vì phía Liên Xô không đưa ra được những bằng chứng thuyết phục. Hơn mười năm sau, ngày 22-12-1955, sau nhiều nỗ lực vận động của cộng đồng người Ba Lan tại Mỹ, một Ủy ban của Thượng viện Hoa Kỳ đề nghị chính phủ Hoa Kỳ đưa vụ Katyn lên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và buộc tội Liên Xô trước Tòa án Quốc tế tại Hà Lan, song đề nghị này không được chính phủ Mỹ chấp thuận.

Năm 1953, I. Stalin qua đời, "chủ nghĩa xét lại" của Tổng Bí thư Nikita Khrushchev lên ngôi nhưng N. Khrushchev cũng không vượt qua "phương pháp áp lực trực tiếp" đối với nước láng giềng Ba Lan; vì thế, "vấn đề Katyn" không thể vô cớ bị xới lên lần nữa. Cuối thập niên 50, dưới chỉ đạo của N. Khrushchev, A.Shlepin đã bí mật nghiên cứu hồ sơ vụ Katyn.

Ngày 3-3-1959, A.Shlepin đệ trình "Văn bản N-632-SH", kiến nghị tiêu hủy 21.857 cặp tài liệu về các nạn nhân Katyn - những tài liệu mà theo như A.Shlepin giải thích, là chẳng những "không có bất kỳ ý nghĩa cũng như giá trị lịch sử đối với chính phủ Liên Xô (…) và có lẽ chúng cũng không phải là mối quan tâm thực sự đối với những bạn bè Ba Lan"; trái lại, nếu ngẫu nhiên bị phát hiện, "có thể dẫn đến những hậu quả vô cùng bất lợi cho Nhà nước Xôviết".

A. Shlepin đề nghị giữ lại những hồ sơ quan trọng nhất như "Biên bản cuộc họp Troika NKVD cùng những văn bản thực hiện quyết định số phận 15.000 tù binh Ba Lan. Ban lãnh đạo Liên Xô đã chuẩn y đề nghị của A. Shlepin, chỉ giữ lại những hồ sơ quan trọng, được tập hợp thành một bộ "Hồ sơ đặc biệt Số 1" và đưa vào bảo quản theo chế độ tuyệt mật, chỉ những người lãnh đạo cao nhất của chính quyền Liên Xô mới có quyền tiếp cận.

Nửa sau của thập niên 80, trong khuôn khổ công cuộc cải tổ, Michail Gorbachev đã đồng ý thành lập Ủy ban hỗn hợp Liên Xô-Ba Lan với mục đích tìm sự lý giải cho những vết đen lịch sử trong quan hệ hai nước. Gọi tên ủy ban như vậy nhưng trong thực tế là tìm phương thức thích ứng để công khai hoá thủ phạm. Cũng cần lưu ý ở đây rằng, với cương vị Tổng bí thư và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết Tối cao, chắc chắn Gorbachev đã biết rõ "Hồ sơ đặc biệt Số 1".

Trong tiến trình thắt chặt toàn diện quan hệ Liên Xô - Ba Lan, năm 1986, M. Gorbachev và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Ba Lan W.Jaruzelski ký "Hiệp định về hợp tác Liên Xô - Ba Lan trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và khoa học", theo đó, hai bên "chú trọng không để tồn tại những vết đen trong lịch sử hai nước, không để lịch sử đốt lên hận thù dân tộc".

Ngày 19-5-1987, tại Moscow đã diễn ra phiên họp toàn thể đầu tiên Ủy ban Liên Xô - Ba Lan về lịch sử quan hệ song phương, "vấn đề Katyn" được đưa vào chương trình nghị sự, song những nghiên cứu về sự kiện này diễn tiến khá trì trệ và bị chi phối bởi tư tưởng giáo điều, bởi các yếu tố chính trị trong nội bộ mỗi nước và trong quan hệ Liên Xô - Ba Lan.

Đến ngày 13-4-1990, nhân chuyến thăm Liên Xô của Tổng thống W.Jaruzelski, một số tư liệu lưu trữ liên quan đến sự kiện Katyn mới được chuyển giao cho phía Ba Lan. Ngày 13-4-1990, Hãng thông tấn Liên Xô TASS ra "Tuyên bố chính thức" thừa nhận trách nhiệm của Liên Xô trong "thảm kịch Katyn".

Tuyên bố nói rõ: "Tài liệu tìm thấy trong kho lưu trữ cho phép kết luận về vai trò, trách nhiệm của Beria, Merkulov và các đồng sự" đồng thời bày tỏ sự hối tiếc sâu sắc về sự kiện bi thảm Katyn.

Sau đó 20 năm, ngày 28-4-2010, Giám đốc Cơ quan lưu trữ Liên bang Nga Andrey Artizov tuyên bố với báo giới các tài liệu liên quan đến vụ Katyn được cơ quan này đưa lên website của mình cùng lời khẳng định: "Các tài liệu này chưa bao giờ được đăng trên các website chính thức của Chính phủ và đây là lần đầu tiên được đăng tải trên trang điện tử của chúng tôi, trong đó có "Hồ sơ đặc biệt Số 1".

http://intermati.com/forum/attachment.php?attachmentid=1172191&stc=1&d=1517940688
Các vụ xử bắn được tiến hành có phương pháp. Sau khi thông tin cá nhân của người bị kết án được kiểm tra, anh ta bị trói tay và dẫn tới một xà lim cách ly với các bao cát dọc theo các bức tường và một nỉ lót, cánh cửa nặng. Nạn nhân phải quỳ giữa phòng, sau đó kẻ hành quyết tiến lại từ phía sau và lập tức bắn vào sau đầu anh ta. Thi thể sau đó được mang qua cánh cửa đối diện và bị bỏ vào năm hay sáu chiếc xe tải đợi sẵn, và người bị hành quyết tiếp sau vào phòng. Ngoài việc cách ly kín phòng hành quyết, tiếng nổ của đạn còn được ngụy trang bằng cách cho hoạt động những loại máy có tiếng ồn lớn (có lẽ là những chiếc quạt) cả đêm. Quy trình này diễn ra hàng đêm,.

Ngày 4 tháng 2 năm 2010 Vladimir Putin, đã mời người đồng cấp Ba Lan, tham giữ một cuộc tưởng niệm Katyn vào tháng 4. Ngày 10 tháng 4 năm 2010, chiếc máy bay chở Tổng thống Ba Lan Lech Kaczyński cùng phu nhân và 87 chính trị gia và các sĩ quan cao cấp khác đâm xuống đất tại Smolensk, làm thiệt mạng toàn bộ 96 người trên máy bay. Các hành khách đang trên đường tới dự một lễ tưởng niệm 70 năm vụ xử bắn ở Katyn. Đất nước Ba Lan choáng váng; Thủ tướng Donald Tusk, người không ở trên máy bay, gọi đây là "sự kiện bi thảm nhất của Ba Lan từ sau cuộc chiến tranh." Sau đó, một số giả thuyết âm mưu bắt đầu lan truyền.

Nguồn Tổng Hợp, KGB                                   
Xin mời quý niên trưởng và anh chị em xem bài viết của soạn giả Nguyễn Phương nhớ về người bạn Viễn Châu và thưởng thức vidéo vọng cổ Cô hàng cà phê của soạn giả Viễn Châu.
https://www.youtube.com/watch?v=vY3xGlWGBek

Nhớ Viễn Châu, người nghệ sĩ có ba trái tim.
Soạn giả kiêm nhạc sĩ Viễn Châu mất ngày 01 tháng 02 năm 2016, tính đến tháng 02 năm 2018, là đã tròn hai năm. Nhớ Viễn Châu, tôi pha bình trà thơm, rót ra hai tách, mời anh uống trà thay rượu, tâm tình nhắc lại chuyện xưa.
Trong ngày này, các nghệ sĩ đàn em, đàn cháu, đệ tử của anh, thế nào cũng có lễ tưởng niệm anh. Nghệ sĩ Út Bạch Lan đã về cõi vĩnh hằng, chớ nếu chưa thì Út Bạch Lan  sẽ ca bài Hoa Lan Trắng, bài ca anh sáng tác kể về cuộc đời cơ khổ của cô gái có tên Bạch Lan.. Anh Út Trà Ôn thì sẽ ca bài Tình anh Bán Chiếu hay Ông lão chèo đò… Cô Diệu Hiền với bài Tần Quỳnh khóc bạn, nữ nghệ sĩ Hồng Nga ca Tình Lan và Điệp, Phương Hồng Thủy ca bài Lá Trầu Xanh, Nếu Thanh Hương còn thì cháu sẽ ca bài Đêm Khuya Trông Chồng, bài ca lảm rạng danh cô Tư Sạng, mẹ của Thanh Hương,  Tấn Tài sẽ ca bài Bông Ô Môi,  nghệ sĩ Tuấn Anh sẽ ca bài Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà, Vua vọng cổ hài Văn Hường thế nào cũng nhắc lại bài Tư Ếch Đi Saigòn, các nghệ sĩ trẻ khác sẽ ca Hàn Mạc Tử, hoặc Cao Tiệm Ly tiễn Kinh Kha, hay Gánh Nước Đêm Trăng… Còn nhiều nghệ sĩ, các em các cháu nợ anh một bài ca, nhớ anh một tuồng hát mà nhờ đó họ được rạng danh, tạo nên tên tuổi sáng rực dưới vòm trời vọng cổ.
Kể về Viễn Châu có ba trái tim thì một trái tim dành cho Sáng tác, một trái tim dành cho Thơ, một trái tim dành cho Nhạc.
Với trái tim dành cho Sáng tác, trước năm 1975 Viễn Châu đã sáng tác hơn 2000  bài vọng cổ cho các nam nữ nghệ sĩ danh ca thu thanh trong các hãng dĩa Asia, Việt Nam, Kim Long, Việt Hải, Sống Mới, Nhạc Ngày xanh, Hồn Nước và hãng của Ngọc Chánh sản xuất băng từ. Viễn Châu viết hơn 200   bài vọng cổ Hài Hước cho Ca sĩ Văn Hường ca, tạo cho Văn Hường biệt danh Vua ca vọng cổ hài.
Viễn Châu cũng đã sáng tác hơn 50  tuồng cải lương cho các đoàn hát mà anh cộng tác : đoàn Việt kịch Năm Châu, đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn, đoàn Thanh Tao, đoàn Thanh Nga, đoàn Dạ Lý Hương, đoàn Tân Hoa Lan. Đến nay khán giả và nghệ sĩ còn nhớ các tuồng cải lương của Viễn Châu : Nát Cánh Hoa Rừng, Tình Mẫu Tử, Đời cô Nga, Sau bức màn nhung, Chuyện Tình Hàn Mạc Tử, Chuyện tình Lan và Điệp, Qua cơn ác mộng, Hoa Mộc Lan, Con gái Hoa Mộc Lan, Hai nụ cười xuân, Ai điên ai tỉnh …
Viễn Châu là nhạc sĩ mà cũng là thi sĩ nên các bài vọng cổ là thơ và nhạc, có chất văn học, mỗi câu hát lời ca, mỗi nhân vật trong câu chuyện của bài vọng cổ đều được anh gởi gấm chút niềm tâm sự, một chút tình…thứ tình cảm lãng mạn trong một tâm hồn đa tình, lãng tử. Tình cảm đó, có khi là một chút hình ảnh của quê hương có ánh sáng lập lòe của bầy đom đóm, có tiếng gà trưa lẫn tiếng chuông chùa công phu văng vẳng, có khi là hình ảnh của người nông phu bình dị mà anh bắt gặp bất ngờ trên đường đời mà nỗi bất hạnh, nỗi buồn khổ của họ hay chuyện tình nên thơ mà dang dở của họ đã để lại trong tâm hồn anh nhiều ray rứt… cũng có khi là một chút cảm khái « dư nước mắt khóc người đời xưa ». Nói chung, nhân vật trong tuồng, trong bài vọng cổ đều chuyên chở dùm cho Viễn Châu nỗi niềm hoài niệm một thời thơ ấu đa tình, một chút lãng mạn của một người yêu đời, yêu thơ văn và âm nhạc.
Với trái tim dành cho Thơ, Viễn Châu là thi sĩ ngoại hạng nhưng không mang danh là thi sĩ.
Viễn Châu sáng tác hơn 2000 bài ca vọng cổ cho ba thế hệ diễn viên, ca sĩ ca thu thanh vô dĩa. Mỗi bài ca vọng cổ thu dĩa thường có ít ra 8 câu thơ ; 4 câu thơ nói lối hay ngâm trước khi ca câu vọng cổ 1 và 4 câu thơ trước khi ca câu 5, câu 6 hoặc thơ trong lòng câu vọng cổ.
Ví dụ : Trong bài vọng cổ « Hoa Đào Năm Ngoái », 4 câu thơ nói lối trước khi vô vọng cổ câu 1 :
                   Cánh chim về tổ chở mây xa
                   Liễu biếc sầu ai quạnh nắng tà  
                   Người đep đâu rồi, cây nhớ bóng
                   Lan đình còn đọng dấu hài hoa.
Và đây 4 câu thơ nói lối gác vô câu vọng cổ số 5 :
                  Hương tóc mơ màng, hương cố nhân,
                  Người xưa lưu lạc bước phong trần
                  Hồn thơ rũ rượi sầu ngăn cách
                  Lá chết rơi nhiều quyện gió đông.
Trong bài « Cô hàng cà phê », 4 câu thơ nói lối trước khi vô vọng cổ câu 1 :
                   Gió thổi tơi bời xác lá bay
                   Mưa rơi từng giọt mái hiên ngoài
                   Em ngồi lẳng lặng bên khung cửa
                   Hướng nẻo chân trời để nhớ ai.
Và đây 4 câu thơ gác vô câu 5 bài « Cô Hàng Cà Phê »
                  Chiều xuống lâu rồi mưa vẫn tuôn
                  Ngoài kia phố thị hắt hiu buồn
                  Tôi nghe rười rượi hồn du tử
                  Hướng nẻo chân trời để nhớ ai !
Viễn Châu làm thơ không phải để nổi tiếng với thơ, nhưng anh biết làm thơ nên viết lời ca vọng cổ với tâm hồn thi sĩ, tâm hồn lãng mạn. Tôi thử làm một bài toán cộng để hình dung cái khối sáng tác Thơ đồ sộ của Viễn Châu. Anh viết hơn 2000 bài ca vọng cổ, mỗi bài vọng cổ Viễn Châu thường viết 8 câu thơ,( 4 câu thơ trước khi ca vọng cổ câu 1, 4 câu khác gác vô vọng cổ câu 5, không kể các câu thơ trong lòng câu vọng cổ) Với hai ngàn bài vọng cổ thu dĩa trước năm 1975, Viễn châu đã sáng tác  8 câu thơ  X 2000 = 16. 000 câu thơ. Mỗi bài vọng cổ được viết như kể một câu chuyện ngắn, một chuyện tình, mỗi bài vọng cổ có nhân vật khác nhau, chuyện tình cảm cũng khác, vậy hai ngàn bài vọng cổ là hai ngàn chuyện ngắn khác nhau. Về 200 bài ca hài của Văn Hường, Hề Sa, Hề Minh ca là 200  chuyện châm biếm thói hư tật xấu đáng cười chê trong xã hội, ghi dấu sự va chạm của phong tục tập quán xưa cũ và cái nếp sống văn minh mới, đồng thời cũng tìm ra được cái nét rởm đời khi học theo cái mới một cách quá trớn, đem lại một sự hủy hoại nếp sống đạo đức Á Đông. Những bài vọng cổ hài này được đa số thính giả tán thành nên thời kỳ có nhiều bài vọng cổ hài, không có ký giả kịch trường nào phê phán chê bai.
Trái tim thứ ba dành cho Nhạc, Viễn Châu nổi danh nhạc sĩ đàn tranh với tên là nhạc sĩ Bảy Bá ( tên thiệt). Với ngón đàn tranh tươi mướt,với sự hiều biết sâu sắc về cổ nhạc và tân nhạc, nhạc sĩ Bảy Bá  xứng đáng được tôn vinh là nhạc sư, một danh thủ đàn tranh không thua gì danh cầm đàn tranh Sáu Quí của đoàn Việt Kịch Năm Châu. Nhạc sĩ Bảy Bá đàn tranh, nhạc sĩ Năm Cơ đàn kìm, nhạc sĩ Văn Vĩ đàn guitare phím lõm là ba danh cầm được các hãng dĩa quý trọng, thường mời ba danh cầm này đàn cho các ca sĩ ca thu thanh các bộ dĩa vọng cổ và tuồng cho hãng dĩa. Nhạc sư Bảy Bá được kể là cha đẻ của kỹ thuật ca vong cổ mới : đó là Tân Cổ Giao Duyên.
Đầu năm 1960. nhạc sĩ Bảy Bá tạo ra bài Tân Cổ Giao Duyên đầu tiên : Cô Hàng Chè Tươi . Tân nhạc Nguyễn Hữu Thiết, vọng cổ Viễn Châu. Anh đã bỏ câu 3 và câu 4 vọng cổ, thay vào là một đoạn tân nhạc thay cho lối ngâm 4 câu thơ gác vọng cổ. Bài Tân Cổ Giao Duyên thứ 2 : Chàng Là Ai ?( tân nhạc Nguyễn Hữu Thiết, lời vọng cổ Viễn Châu) Hãng dĩa Hồng Hoa thu thanh và phát hành.) Hai bài Tân Cổ Giao Duyên đầu tiên, khi được phát hành, một số người theo khuynh hướng bảo thủ, muốn bảo vệ bài vọng cổ truyền thống chỉ trích nặng nề. Tuy nhiên Viễn Châu kiên trì sáng tác thêm nhiều bài ca Tân Cổ Giao Duyên với những bản tân nhạc có giai điệu êm ái, nhẹ nhàng, lồng vào bài vọng cổ( nhạc của Nguyễn Hữu Thiết, Nguyễn Văn Đông, Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, Hoàng Nguyên, Lam Phương, Song Ngọc…) Kết quả là thính giả chấp nhận món ăn tinh thần mới, giai điệu phù hợp vói cảm quan của đại đa số người thích tân nhạc và vọng cổ của thập niên 60, 70 và cả về sau này. Các nghệ sĩ, danh ca Thanh Nga, Thành Được, Út Bạch Lan, Hữu Phước, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Mỹ Châu, Ngọc Giàu, Tấn Tài., Minh Cảnh, Minh Phụng, Út Hiền,… đều có ca thu thanh nhiều bài Tân Cổ Giao Duyên được giới thưởng ngoạn gọi là những tác phẩm để đời…
Ngày 30  tháng 4 năm 1975,  tất cả các gánh hát Cải Lương, Hát Bội, Kịch, Các Ban ca, vũ nhạc đều bị giải tán. Nhà nước mới tịch thu và quản lý hết các rạp hát. Nghệ sĩ phải đăng ký hành nghề nơi Ban Thông Tin Văn Hóa, trụ sở tạm tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc cũ đường Nguyễn Du. Tôi gặp Viễn Châu đi đăng ký. Buồn lắm, chiều đó anh ghé thăm tôi. Chúng tôi ngồi uống trà, im lặng bên nhau khá lâu, anh hỏi tôi : « Anh tính gì chưa? » Tôi nói : « Chắc tôi đưa vợ con về xã Phú Nổ Sóc Trăng. Về xin lại vài công ruộng của gia đình bên vợ tôi theo chánh sách Hồi hương lập nghiệp của chánh phủ mới tuyên truyền! »
Viễn Châu cười : « Bộ anh làm ruộng được sao?... anh ngồi thở ra, rồi đọc mấy câu thơ :
Ngày ấy bút cùn như giáo gãy,
Tả tơi khôi giáp, rách quân kỳ
Tôi như dũng tướng vừa thua trận
Nằm giữa sa trường vạn tử thi.
Viễn Châu và tôi đều biết là Miền Bắc chiếm được Miền Nam rồi thì việc đầu tiên, họ diệt hết những nhà trí thức, các văn sĩ, nghệ sĩ, thi sĩ. Lúc còn chiến tranh, chúng tôi nghe Đài phát thanh, đọc các báo chí ở Saigòn và những bài trích đăng về vụ án Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc trong năm 1958, chúng tôi biết các nhạc sĩ, thi sĩ, nhà văn như Văn Cao, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Trần Dần, Nguyễn Binh đều bị tù đày, bị trù ải, không cho làm việc gì để kiếm sống chớ đừng nói tới việc cho sáng tác văn chương, thi phú hay ca nhạc. Các soạn giả cải lương ở miền Nam, các nhà văn, nhà báo, thi sĩ, nhạc sĩ chắc chắn sẽ bị cấm hành nghề, nhà cầm quyền Cộng sản không cho tự do tư tưởng, tự do sáng tác văn chương hay ca nhạc để thực hiện chánh sách toàn trị của đảng. Biết như vậy nhưng chúng tôi cũng không dám thố lộ tâm sự với nhau. Viễn Châu nói : Tâm sự của tôi có lẻ chỉ gởi vào thơ. Nó mông lung nhưng thơ không thể là một cái bằng cớ để người khác kết tội mình…Anh đọc luôn :
Muốn chôn u uất vào men rượu
Ném bút, quăng thơ, đập cả đàn
Khổ nỗi khi nghe mưa rơi tí tách,
Giật mình cứ ngỡ tiếng song lang.
Viễn Châu bỏ về Lộc Ninh ở ẩn, anh không tham gia ban tuyên truyền hay ban văn nghệ của Lộc Ninh. Anh cất một mái nhà tranh, sống ẩn dật. Nhắc lại ngày 30 tháng 4, anh có bài thơ tâm sự :
Mưa lạnh run run gió dật dờ
Thành đô bỗng chốc hóa tiêu sơ
Đôi giây khoan nhặt cười ray rứt
Năm ngón cung thương khóc sững sờ
Tháng lụn năm tàn, già héo hắt
Quê người xứ lạ, trẻ bơ vơ
Chiếu nay có kẻ nhiều tâm sự
Nước mắt hòa trong nhạc với thơ.
Bài thơ này soạn giả Viễn Châu bày tỏ nỗi lòng: trong câu thơ « Thành đô bỗng chốc tiêu sơ » là chỉ thành phố Saigon bỗng chốc tan nát tiêu sơ ( trong ngày 30  tháng 4/ 1975.) Hai câu thơ: « Đôi giây khoan nhặt cười ray rứt », « Năm ngón cung thương, khóc sững sờ », Cười ray rứt để diễn tả bề ngoài tưởng như cười khi đàn nhưng cười ray rứt là đau đớn trong lòng mà bề ngoài phải giả tươi cười. Năm ngón cung thương khóc sửng sờ tức là khóc sửng sờ trước cái mất bất ngờ của thành phố! Câu thơ : « Quê người xứ lạ trẻ bơ vơ » chỉ rõ là anh có đứa con đi di tản, bây giờ không biết bơ vơ lạc lõng ở xứ nào. ( Sau này mới biết con anh được tàu Đức quốc vớt ngoài biển, được định cư ở nước Đức ). Thử hỏi những văn nghệ sĩ đồng thời với Viễn Châu, có mấy ai dám tỏ tấm lòng đau thương vì thành phố Saigon bỗng chốc hóa tiêu sơ ?
Nhớ về Viễn Châu, lại nhớ chuyện sáng tác các câu đối và các bài vọng cổ. Sau năm 1978, sau khi Thanh Nga mất, Viễn Châu từ Lộc Ninh về Saigon, được các ông lãnh đạo Sở VHTT mời về đàn cho đoàn Văn Công GP, vài tháng sau, một ông có chức ở Sở VHTT yêu cầu Viễn Châu sáng tác vọng cổ hoặc các câu đối đề ca ngợi ông Hồ, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Nguyên Giáp.
Vài tháng sau, Viễn Châu không viết được chữ nào, không vọng cổ, không có câu đối ngợi ca lãnh tụ, ông xếp ở Sở VHTT hỏi: « Trước 75, anh sáng tác hơn hai ngàn bài vọng cổ, bài nào cũng hay, cũng được danh ca ca và thính giả ưa thích. Sau 1975, anh không sáng tác nữa dù cấp trên có yêu cầu. Nghệ sĩ khác không được quyền sáng tác, trái lại anh được yêu cầu sáng tác, tại sao anh không nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của cách mạng?»
Viễn Châu nói: « Tôi không hiểu rành đường lối và thành tích của cách mạng, sợ viết sơ xuất. Còn làm câu đối ngợi ca lãnh tụ thì tôi không hiểu các hoạt động cách mạng của lãnh tụ, sợ viết có sai phạm thì nguy lắm. Tôi sẽ nghiên cứu sâu hơn nữa tài liệu cách mạng và thành tích của lãnh tụ, khi thấm nhuần tôi sẽ sáng tác vọng cổ hay câu đối theo đề xuất của ông.»
Gặp tôi, anh kể chuyện đó và nói: « Tự do sáng tác như kiểu nhạc sĩ Văn Cao và thi sĩ Nguyễn Bính thỉ bị đảng nhốt vô tù, bị trù dập. Còn sáng tác theo định hướng, theo sự chỉ huy của đảng thì coi như mình đã chết rồi. Vậy nên tôi tự làm thơ tự thưởng thức, có lẽ vui hơn. » Anh đọc mấy câu thơ:
Xuân đã tàn thôi mộng cũng tàn
Nói năng gì nữa với nhân gian?
Cuộc đời còn lại bao nhiêu nhỉ
Vài bản tình ca, mấy nhịp đàn !
Trước năm 1975, soạn giả Viễn Châu sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, anh được tự do sáng tác, nhờ đó anh đã sáng tác hơn 2000 bài ca vọng cổ, 200 bài ca vọng cổ hài và 50 vở tuồng cải lương…đó là một kho tàng vọng cổ quý vô giá.
Sau năm 1975, anh không được tự do sáng tác, từ năm 1975 đến ngày anh mất 01 tháng 2 năm 2016, bốn mươi mốt năm soạn giả Viễn Châu không sáng tác gì hết! 41 năm bị o ép, một thiên tài bị ép chết một cách tức tưởi, 
Lại nhớ mấy câu thơ như lời trăn trối của Viễn Châu:
Gió bụi thời gian bạc mái đầu
Mấy dòng tâm sự gởi về đâu?
Đôi ba năm nữa, mươi năm nữa
Thiên hạ còn ai nhớ Viễn Châu ?

Nhân ngày giỗ Viễn Châu, viết với lòng vô cùng thương nhớ bạn.
Soạn giả Nguyễn Phương 96 tuổi !
Attachments area
Preview YouTube video CÔ HÀNG CÀ PHÊ Soạn giả Viễn Châu Tịnh Đế Liên Hoa ca

Saturday, 17 February 2018

NGUYỄN HẢI LONG LÀ 1 TRONG NHỮNG ĐỨA TỔ CHỨC BẮT CÓC - KHÔNG CẦN PHẢI CHÍNH TAY LONG BẮT CÓC MỚI CÓ TỘI./-TCL

Nghi can vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh sắp ra hầu toà tại Đức
Click image for larger version

Name: b1.jpg
Views: 0
Size: 95.1 KB
ID: 1177042   Click image for larger version

Name: b2.jpg
Views: 0
Size: 37.3 KB
ID: 1177043  

Nghi can Nguyễn Hải Long, người đứng ra thuê chiếc xe dùng để bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức. Sau thời gian Nguyễn Hải Long bị dẫn độ từ CH Séc về Đức và bị bắt giam. Sắp tới nghi can Nguyễn Hải Long sẽ bị đưa ra xét xử tại toà án Đức.



Mới đây nhật báo TAZ của Đức số ra ngày 15/02/2018 đưa tin, trong thời gian sắp tới Tổng công tố viện Liên bang Đức sẽ ra quyết định truy tố nghi can Nguyễn Hải Long. Đó là tờ TAZ dựa vào nguồn tin xuất phát từ những nhân viên điều tra vụ này. Khi trả lời tờ TAZ, bà Köhler, Phát ngôn viên của Tổng công tố viện Liên bang, đã không phủ nhận mà cũng không xác nhận tin tức này. “Bị cáo có quyền là người đầu tiên được cho biết mình bị truy tố. Sau đó chúng tôi mới có thể thông báo chính thức cho báo chí biết được”, bà Köhler nói với tờ TAZ.

Các đây hơn 6 tháng, hồi 12/08/2017 nghi can Nguyễn Hải Long, chủ văn phòng chuyển tiền MoneyGram tại chợ Sapa CH Séc, đã bị cảnh sát CH Séc bắt ở thủ đô Prag. Theo điều tra của cảnh sát, Nguyễn Hải Long là người đứng ra thuê mướn ở Prag chiếc xe 7 chỗ ngồi, hiệu Multivan VW (Volkswagen) của Đức, trong khoảng thời gian từ ngày 20 đến 24.07.2017 và đã đích thân lái chiếc xe đến Berlin trong ngày đầu tiên thuê mướn. Vào ngày 23.07.2017 chiếc xe này được đội mật vụ đến từ Việt Nam sử dụng để bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin.

Mười một ngày sau khi bị cảnh sát CH Séc bắt, nghi can Nguyễn Hải Long, 46 tuổi, đã bị dẫn độ từ Prag về nước Đức vào ngày 23/08/2017 để điều tra và bị giam trong nhà tù Berlin từ đó cho đến nay.

Như thế theo Bộ luật tố tụng hình sự của Đức, đến thứ sáu tuần sau là hết hạn được phép tạm giam tối đa 6 tháng để điều tra. Nếu hết hạn mà chưa có đủ cơ sở chứng cớ để truy tố, thì tòa án sẽ cân nhắc quyết định, hoặc gia hạn thêm một thời gian tạm giam để tiếp tục điều tra, hoặc trả tự do cho nghi can.

Cuộc điều tra của Tổng công tố viện Liên bang cho thấy vụ bắt cóc này là do mật vụ Việt Nam và Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tổ chức từ đầu đến cuối. Có ít nhất 5 nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin đã tham gia, dính líu vào vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, trong số đó 2 người đã bị Bộ Ngoại giao Đức trục xuất về Việt Nam.

Nguồn tin từ giới hữu trách điều tra nói rằng, nghi can Nguyễn Hải Long chỉ là một mắc xích nhỏ trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin hồi cuối tháng 7 năm ngoái. Nghi can Long chỉ đứng ra thuê mướn chiếc xe ở Prag và lái chiếc xe đến Berlin, nhưng trong ngày xảy ra vụ bắt cóc, thì nghi can Nguyễn Hải Long không có mặt ở Berlin, mà ở Prag, nhiều nhân chứng đã thấy trong ngày này nghi can Long làm việc trong văn phòng chuyển tiền MoneyGram tại chợ Sapa CH Séc.

Nếu bị truy tố và đưa ra tòa án xét xử thì Nguyễn Hải Long chỉ có thể bị kết án là một tòng phạm mà thôi.

Một trong những thủ phạm chính yếu nhất là Trung tướng Đường Minh Hưng - Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục an ninh, Bộ Công an Việt Nam. Theo những thông tin của đài NDR, WDR và nhật báo "Süddeutscher Zeitung", một tuần trước khi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra, Trung tướng Đường Minh Hưng - đã đích thân bay sang Berlin cùng với 2 mật vụ trú ngụ tại khách sạn "Hotel Berlin, Berlin" để trực tiếp chỉ huy cuộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Một câu hỏi cũng được đặt ra, người nào ở cấp cao hơn, thậm chí ở Bộ chính trị Trung ương Đảng, đã ra lệnh, cử Trung tướng Đường Minh Hưng đến Berlin thực hiện cuộc bắt cóc?

Rất có thể đó là “người đốt lò” TBT Nguyễn Phú Trọng hoặc là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (sau khi bên lề hội nghị G20 ở Hamburg xin bà Thủ tướng Đức Merkel cho dẫn độ Trịnh Xuân Thanh, nhưng không được, liền tổ chức cuộc bắt cóc) hoặc là cả hai.